QUÁ TRÌNH GLUCOLYSIS LÀ GÌ? – AGRICULTURE
Tin tức

QUÁ TRÌNH GLUCOLYSIS LÀ GÌ?

Posted On February 6, 2020 at 1:32 am by / Comments Off on QUÁ TRÌNH GLUCOLYSIS LÀ GÌ?

Glycolysis là một quá trình hóa học cho phép hô hấp và chuyển hóa tế bào, đặc biệt là bằng cách phân hủy glucose.

Trong bài viết này, chúng ta sẽ thấy chi tiết hơn glycolysis là gì và nó dùng để làm gì, cũng như 10 giai đoạn hành động của nó.

Glucolysis là gì?

Thuật ngữ “glycolysis” bao gồm “glycos” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “đường” và “ly giải” có nghĩa là “vỡ”. Theo nghĩa này, glycolysis là quá trình mà thành phần của glucose được biến đổi để trích xuất đủ năng lượng để mang lại lợi ích cho các tế bào. Trên thực tế, nó không chỉ hoạt động như một nguồn năng lượng, mà còn tác động đến hoạt động của tế bào theo những cách khác nhau, mà không nhất thiết phải tạo thêm năng lượng.

Ví dụ, nó tạo ra năng suất cao của các phân tử cho phép trao đổi chất và hô hấp tế bào cả hiếu khí và kỵ khí. Nói rộng ra, aerobic là một loại chuyển hóa bao gồm chiết xuất năng lượng từ các phân tử hữu cơ từ quá trình oxy hóa carbon bằng oxy. Trong kỵ khí, nguyên tố được sử dụng để đạt được quá trình oxy hóa không phải là oxy mà là sunfat hoặc nitrat.

Biến, Glucose là một phân tử hữu cơ bao gồm màng 6 vòng được tìm thấy trong máu, và nói chung là kết quả của sự biến đổi carbohydrate thành đường. Để đi vào tế bào, glucose di chuyển qua các protein chịu trách nhiệm vận chuyển nó từ bên ngoài tế bào đến cytosol (dịch nội bào, nghĩa là chất lỏng được tìm thấy ở trung tâm của tế bào)..

Thông qua quá trình đường phân, glucose được chuyển đổi thành một axit gọi là “pivuric” hoặc “pyruvate” có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sinh hóa. Quá trình này xảy ra trong tế bào chất (phần của tế bào nằm giữa nhân và màng). Nhưng để glucose trở thành pyruvate, một cơ chế hóa học rất phức tạp bao gồm các giai đoạn khác nhau phải xảy ra.

10 giai đoạn của Glucolysis

Glycolysis là một quá trình đã được nghiên cứu từ thập kỷ thứ hai của thế kỷ XIX, khi các nhà hóa học Louis Pasteur, Eduard Buchner, Arthur Harden và William Young bắt đầu chi tiết hóa cơ chế lên men. Những nghiên cứu này cho phép biết sự phát triển và các dạng phản ứng khác nhau trong thành phần của các phân tử.

Đây là một trong những cơ chế tế bào lâu đời nhất, và tương tự như vậy cách nhanh nhất để có được năng lượng và chuyển hóa carbohydrate. Đối với điều này, cần phải có 10 phản ứng hóa học khác nhau xảy ra, được chia thành hai giai đoạn chính. Đầu tiên trong số họ bao gồm tiêu tốn năng lượng bằng cách chuyển đổi phân tử glucose thành hai phân tử khác nhau; trong khi pha thứ hai thu được năng lượng bằng cách biến đổi hai phân tử được tạo ra ở giai đoạn trước.

1. Hexokinase

Bước đầu tiên trong quá trình glycolysis là chuyển đổi phân tử D-glucose thành phân tử glucose-6-phosphate (phân tử glucose-phosphoryl hóa trên carbon 6). Để tạo ra phản ứng này, cần phải tham gia vào một loại enzyme có tên là Hexoquinasa và có chức năng kích hoạt glucose để nó có thể được sử dụng trong các quy trình sau.

2. Phosphoglucose isomerase (Glucose-6 P isomerase)

Phản ứng thứ hai của glycolysis là sự chuyển hóa glucose-6-phosphate thành fructose-6-phosphate. Đối với điều này phải hoạt động một enzyme gọi là phosphoglucose isomerase. Đây là giai đoạn xác định thành phần phân tử sẽ củng cố glycolysis trong hai giai đoạn tiếp theo.

3. Fosfofstalloquinasa

Trong giai đoạn này, fructose-6-phosphate được chuyển đổi thành fructose 1,6-bisphosphate, thông qua hoạt động của phosphofurationokinase và magiê. Đó là một giai đoạn không thể đảo ngược, có nghĩa là glycolysis bắt đầu ổn định.

4. Aldolase

Bây giờ, fructose 1,6-bisphosphate được chia thành hai loại đường đồng phân, nghĩa là hai phân tử có cùng công thức, nhưng các nguyên tử của chúng được sắp xếp theo những cách khác nhau, cũng có các tính chất khác nhau. Hai loại đường là dihydroxyacetone phosphate (DHAP) và glyceraldehyd 3-phosphate (GAP) và phân chia xảy ra bởi hoạt động của enzyme aldolase.

5. Đồng phân trifosphate

Giai đoạn số 5 bao gồm dự trữ glyceraldehyd cho giai đoạn tiếp theo của quá trình glycolysis. Đối với điều này, điều cần thiết là một enzyme có tên là triphosphate isomerase hoạt động bên trong hai loại đường thu được ở giai đoạn trước (dihydroxyacetone phosphate và glyceraldehyd 3-phosphate). Đây là nơi đầu tiên của các giai đoạn tuyệt vời mà chúng tôi đã mô tả ở đầu của việc đánh số này kết thúc, có chức năng tạo ra chi tiêu năng lượng.

6. Glyceraldehyd-3-phosphate Dehydrogenase

Trong giai đoạn này, việc tạo ra năng lượng bắt đầu (trong 5 lần trước đó, nó chỉ được sử dụng). Chúng tôi tiếp tục với hai loại đường được tạo ra trước đó và hoạt động của nó như sau: sản xuất 1,3-bisphosphoglycerate, bằng cách thêm một phân lân vô cơ vào glyceraldehyd 3-phosphate.

Để thêm phốt phát này, phân tử khác (glyceraldehyd-3-phosphate dehydrogenase) phải được khử hydro. Điều này có nghĩa là bắt đầu tăng năng lượng của hợp chất.

7. Phosphoglycerate kinase

Trong giai đoạn này có một sự chuyển giao khác của một phosphate, để có thể tạo thành adenosine triphosphate và 3-phosphoglycerate. Đó là phân tử 1,3-bisphosphoglycerate nhận một nhóm phosphate từ kinase phosphoglycerate.

8. Đột biến photphoglycerate

Từ phản ứng trên, thu được 3-phosphoglycerate. Bây giờ cần phải tạo 2-phosphoglycerate, bằng hành động của một enzyme gọi là đột biến phosphoglycerate. Loại thứ hai chuyển vị trí của carbon thứ ba (C3) thành carbon thứ hai (C2), và do đó thu được phân tử dự kiến.

9. Enolase

Một enzyme gọi là enolase chịu trách nhiệm loại bỏ phân tử nước 2-phosphoglycerate. Theo cách này, tiền chất của axit pyruvic thu được và chúng ta sắp kết thúc quá trình glycolysis. Tiền chất này là phosphoenolpyruvate.

10. Pyruvate kinase

Cuối cùng, một sự chuyển phospho của phosphoenolpyruvate thành adenosine diphosphate xảy ra. Phản ứng này xảy ra do tác dụng của enzyme pyruvate kinase và cho phép glucose kết thúc quá trình chuyển hóa thành axit pyruvic.