KỸ THUẬT TRỒNG CÂY SẦU RIÊNG

  1. MỘT SỐ YÊU CẦU SINH THÁI

– Cây sầu riêng có thể sinh trưởng phát triển được trên nhiều loại đất, nhưng tốt nhất là đất thịt, thoát nước tốt, gần nguồn nước, đất không bị ảnh hưởng mặn (hàm lượng muối trong đất phải thấp hơn 0,02%), độ pH từ 4,5 – 6,5.

– Khi cây ra hoa cần có nhiệt độ không khí từ 20 – 22oC, ẩm độ từ 50 – 60%.

NHỮNG GIỐNG SẦU RIÊNG PHỔ BIẾN HIỆN NAY

Các giống sầu riêng đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận và trồng phổ biến hiện nay như:

Giống sầu riêng Monthong:

Cây có đặc tính sinh trưởng khá tốt, dạng tán hình tháp, lá thuôn khá dài, mặt trên bóng láng, phẳng và có màu xanh hơi sậm, khả năng sinh trưởng mạnh.

Trồng cây ghép sẽ cho trái khá sớm sau 3 năm trồng, nếu được chăm sóc tốt. Thời gian từ khi nở hoa đến thu hoạch từ 3,5 – 4 tháng. Năng suất khá cao và khá ổn định (140kg/cây/năm đối với cây khoảng 9 năm tuổi).

Trái khá to (2,5 – 4,5kg/trái), thường có dạng hình trụ, vỏ trái màu vàng nâu khi chín, cơm trái màu vàng nhạt, xơ to trung bình, ráo, vị ngọt béo, thơm trung bình, hạt lép nhiều, tỉ lệ cơm cao (31,3%).

Giống sầu riêng Ri 6:

Cây có đặc tính sinh trưởng khá tốt, phân cành ngang đẹp, dạng tán hình tháp, lá hình xoan và có màu xanh đậm mặt trên.

Cây cho trái khá sớm sau 3 năm trồng, nếu được trồng bằng cây ghép và chăm sóc tốt. Thời gian từ khi nở hoa đến khi thu hoạch từ 3 – 3,5 tháng.

Trái có trọng lượng trung bình 2 – 2,5kg/trái, có hình elip, vỏ trái có màu vàng khi chín, cơm trái có màu vàng đậm, không xơ, ráo, vị béo ngọt, thơm nhiều, hạt lép nhiều và tỉ lệ cơm cao (33%).

Giống sầu riêng cơm vàng sữa hạt lép (sầu riêng Chín Hóa):

Cây có đặc tính sinh trưởng khá tốt, dạng tán hình tháp, lá thuôn dài, mặt trên bóng láng và có màu xanh đậm.

Cây cho trái khá sớm sau 4 năm trồng, nếu được trồng từ cây ghép và chăm sóc tốt. Thời gian từ khi nở hoa đến khi thu hoạch từ 3,5 – 4 tháng.

Trái khá to (2,6 – 3,1kg/trái), dạng hình cầu cân đối, vỏ trái màu vàng đồng đều khi chín, cơm trái màu vàng, không xơ, vị béo ngọt, mùi thơm, hạt lép nhiều và tỉ lệ cơm khá cao (28,8%), hơi nhão (nếu để muộn).

III. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

Cây giống: Nên trồng bằng cây ghép (ghép mắt hoặc ghép cành), không nên trồng bằng hạt.

Tiêu chuẩn cây giống tốt:

– Gốc ghép phải thẳng, đường kính gốc ghép 1,0 -1,5cm.

– Bộ rễ phát triển tốt.

– Thân thẳng và vững chắc, có từ 3 cành cấp 1 trở lên, các lá ngọn đã trưởng thành, xanh tốt và có hình dạng, kích thước đặc trưng của giống.

– Chiều cao cây từ 80cm trở lên (tính từ mặt giá thể bầu ươm đến đỉnh chồi).

– Cây phải đúng giống như tên gọi ghi trên nhãn hiệu. Cây phải đang sinh trưởng khỏe, không mang các loại dịch bệnh chính như bệnh thán thư, bệnh do phytophthora, rầy phấn…

Đất trồng:

Đất trồng sầu riêng phải đảm bảo chủ động trong việc tưới và tiêu nước để đảm bảo đủ nước tưới trong mùa khô và thoát nước tốt trong mùa mưa cũng như có thể tạo khô hạn để xử lý cây ra hoa nghịch vụ. Do đó vườn cần phải có bờ bao, cống bọng chắn, có hệ thống mương liếp thông nhau.

Nếu bố trí liếp đơn trồng một hàng thì nên làm liếp rộng 5 – 6m, mương rộng 2 – 3m; nếu bố trí liếp đôi trồng 2 hàng thì nên làm liếp rộng 7 – 8m, mương rộng 4 – 5m.

Thời vụ trồng:

Nếu chủ động nước tưới thì có thể trồng quanh năm, nhưng tốt nhất là trồng vào đầu mùa mưa. Không nên trồng lúc mưa dầm vì cây sẽ chậm phát triển hoặc chết do nghẹt rễ.

Khoảng cách trồng: Nên trồng thưa, cây cách cây từ 8 – 10m.

Cách trồng:

Cây phải trồng trên mô cao, độ cao và bề rộng mặt mô tùy điều kiện đất trồng. Đào hố trên mô đã đắp, hố có đường kính khoảng 0,6m và sâu khoảng 0,6m. Sau đó cho vào hố đã đào hỗn hợp 1 phần phân gà hoai mục với khoảng 3 phần đất mầu mỡ cộng khoảng 100g phân super lân.

Đào lỗ vừa bầu cây con, nhẹ nhàng loại bỏ vật liệu làm bầu, đặt cây vào lỗ vừa đào, lấp đất ngang mặt bầu cây con, ém đất xung quanh gốc, tưới đẫm nước, cắm cọc giữ cây không để gió lay làm ảnh hưởng đến rễ. Dùng rơm rạ hay cỏ khô tủ lên mô để giữ ẩm (không tủ sát gốc cây).

Cần che mát cây con thời gian đầu (chú ý: không che qúa 50% ánh sáng mặt trời).

Mô đất cần bồi rộng theo tán cây hàng năm.

Chăm sóc:

6.1 Giai đoạn sau khi trồng đến khi bắt đầu cho trái:

– Tưới nước: Cây con cần được tưới nước đầy đủ để giảm tỉ lệ cây chết, giúp cây khỏe, nhanh cho trái. Trong mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt.

– Làm cỏ – tủ gốc: Nên để cỏ trên mô nhưng cần làm cỏ xung quanh gốc sầu riêng để gốc được khô ráo, vì ẩm độ cao sẽ thích hợp cho nấm Phytophthora palmivora phát triển và gây hại. Trong mùa khô cần dùng cỏ khô hoặc rơm rạ phủ đất giữ ẩm xung quanh gốc cây, nên phủ cách gốc 10 – 50cm tùy độ lớn của cây.

– Tỉa cành, tạo tán: Trong năm thứ hai, thứ ba khi cây chưa cho trái cần tỉa bỏ những cành bị che khuất, cành yếu, cành bị sâu bệnh, cành mọc qúa gần mặt đất. Chỉ để 1 ngọn với các cành ngang khỏe mạnh phân bố đều trên thân chính. Cần quét sơn cho các vết cắt có đường kính lớn hơn 1cm. Lưu ý: Tỉa cành xong mới tiến hành bón phân.

– Bón phân: Giai đoạn cây con và những năm đầu cho trái: hàng năm mỗi gốc bón 5 – 10kg phân gà đã ủ hoai mục (hoặc các dạng phân hữu cơ khác) kết hợp phân vô cơ có chứa nhiều đạm và lân như 18-11-5 hoặc 15-15-6. Liều lượng phân vô cơ tăng dần theo độ lớn của cây, năm đầu tiên khoảng 0,3kg/gốc/năm, chia nhiều lần bón. Nên sử dụng phân NPK có bổ sung thêm chất Ma-nhê (Mg). Chú ý: Không sử dụng các loại phân có chứa chất Clor (Cl).

6.2 Giai đoạn cây cho trái ổn định:

* Từ sau thu hoạch đến xử lý ra hoa:

Tỉa cành và kích thích ra đọt:

Tiến hành ngay sau khi thu hoạch nhằm kích thích cho cây sầu riêng ra đọt tập trung sẽ hạn chế được sự ra hoa làm nhiều đợt trong năm. Cây cần ra ít nhất 2 lần đọt trước khi tiến hành xử lý ra hoa.

– Tỉa cành: Tỉa bỏ chồi vượt, cành bị sâu bệnh và những cành đan chéo lẫn nhau.

– Kích thích ra đọt:

+ Bón phân: Bón phân hữu cơ đã ủ hoai mục kết hợp với phân bón có hàm lượng đạm cao như 18-11-5 (liều lượng 1 – 2kg/cây có đường kính tán 5 – 6m đang phát triển bình thường), 30-20-5… (không bón phân có chứa chất Clor). Có thể phun thêm phân bón lá 33-11-11 hoặc 20-20-0, 16-16-8 cùng với GA3 (gibberellin) ở nồng độ 5 – 10ppm để kích thích tạo chồi mới khỏe.

+ Tưới nước: Tưới đủ ẩm, tưới 1 – 2ngày/lần vào mùa khô để kích thích cho cây ra đọt tốt.

Khi cơi đọt thứ nhất đã thành thục, bón phân (loại phân như lần bón trước) và tưới nước để kích thích cây ra cơi đọt thứ hai.

Xử lý ra hoa (áp dụng khi xử lý ra hoa nghịch vụ):

– Khi lá cơi đọt cuối chuyển sang lụa, tiến hành bón phân có hàm lượng lân cao như 10-50-17 (liều lượng 1 – 2kg/cây có đường kính tán 5 – 6m đang phát triển bình thường) hoặc sử dụng phân lân super và phân kali để bón (không bón phân có chứa chất Clor) để giúp qúa trình ra hoa dễ dàng. Tưới nước đủ ẩm để cơi đọt phát triển tốt.

– Khi lá cơi đọt cuối đã phát triển thành thục (chuyển xanh), tiến hành tạo khô hạn cho cây bằng các biện pháp như:

+ Quét dọn tất cả vật liệu tủ gốc, xẻ rãnh liếp, không tưới nước, tháo cạn nước trong mương vườn để giúp đất vùng rễ cây khô nhanh.

+ Phủ vải nhựa: Khi đất bên dưới tán cây khô ráo ta tiến hành phủ vải nhựa nhằm đảm bảo nước không đến vùng rễ cây.

– Có thể kết hợp phun paclobutrazol. Chú ý: Chỉ áp dụng đối với cây phát triển xanh tốt và sử dụng theo khuyến cáo ghi trên bao bì.

– Để giúp cho việc ra hoa tốt hơn có thể phun thêm các loại phân bón lá có hàm lượng lân và kali cao như MKP (0-52-34). Lặt bỏ các chồi non nhú trong cành.

Nếu thời tiết thích hợp cây sẽ ra hoa sau 20 – 30 ngày. Thời gian từ khi bắt đầu xử lý đến khi ra hoa phụ thuộc vào từng giống, lượng mưa và ẩm độ đất.

Lưu ý:

Cây sầu riêng ra hoa và phát triển hoa tốt khi:

+ Cây thật khỏe mạnh và cân đối dinh dưỡng.

+ Cây trãi qua một thời kỳ khô hay mát. Do đó để cây sầu riêng ra hoa tốt cần có thời gian khô hạn liên tục từ 7 – 14 ngày. Nhiệt độ không khí từ 20 – 22oC, ẩm độ 50 – 60%. Việc tạo khô hạn phải thật tốt thì cây sầu riêng mới có thể ra hoa.

* Từ khi cây ra hoa đến lúc hoa nở:

– Khi thấy mầm hoa xuất hiện tiến hành giở vải nhựa đậy mặt liếp, bón phân và tưới nước cho mầm hoa phát triển (cho nước vô mương từ từ và giữ nước cách mặt liếp 60 – 80cm). Có thể bón thêm phân NPK như 15-15-15 để thúc mầm hoa.

– Tỉa hoa: Cây sầu riêng thường ra rất nhiều hoa và ra nhiều đợt, do đó cần tỉa thưa hoa. Tùy thuộc vào ý định về thời điểm thu hoạch trái mà nhà vườn chọn để lại hoa ra ở đợt nào. Không nên giữ lại tất cả các hoa. Bởi vì hiện tượng cạnh tranh dinh dưỡng có thể làm rụng hoa, làm hoa phát triển không bình thường ảnh hưởng đến việc thụ phấn và đậu trái.

– Hoa nở sau 45 – 60 ngày.

– Chú ý:

Giai đoạn cây ra hoa cần tưới nước cách ngày để giúp hoa phát triển tốt, hạt phấn khỏe mạnh. Nhưng cần giảm khoảng 2/3 lượng nước ở mỗi lần tưới vào thời điểm 1 tuần trước khi hoa nở để giúp hạt phấn khỏe có khả năng thụ phấn, đậu trái tốt (Chú ý: giảm lượng nước tưới nhưng không để héo cây, héo hoa).

* Từ khi hoa nở đến thu hoạch trái:

– Thụ phấn nhân tạo: Khi hoa nở, nên giúp cây thụ phấn thêm bằng tay vào khoảng 20 giờ để việc thụ phấn được tốt nhằm tạo trái sầu riêng đầy đặn, không bị lép do thụ phấn không hoàn toàn.

– Bón phân:

+ Khi trái to bằng trái chôm chôm bón phân có hàm lượng kali cao như 12-12-17, 12-11-18 (không bón phân có chứa chất Clor). Nên chia ra nhiều lần bón để tránh kích thích cây ra đọt, khoảng 2 tuần bón một lần, lần bón cuối cùng không nên trễ hơn 1 tháng trước thu hoạch. Bổ sung thêm phân kali ở lần bón cuối cùng để tăng chất lượng trái.

+ Có thể phun phân bón lá có nhiều kali ở tuần thứ 5 – 9 sau khi đậu trái (1tuần/lần) để góp phần nâng cao năng suất, phẩm chất trái.

Chú ý:

Bón thừa phân, đặc biệt là phân đạm sẽ có tác dụng kích thích sinh trưởng làm cho cây sầu riêng ra đọt non. Tuy nhiên, nếu không bón phân hoặc bón không đủ cho cây trong giai đoạn này trái sẽ phát triển kém do không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng.

Cây ra đọt non ở thời điểm khi hoa nở sẽ giảm tỉ lệ đậu trái và từ ngày thứ 20 – 55 sau khi hoa nở nếu cây ra đọt non sẽ làm rụng trái và tăng tỉ lệ trái méo mó.

– Quản lý nước:

+ Sau khi đậu trái tăng dần lượng nước đến mức bình thường trở lại để giúp trái phát triển khỏe, chất lượng cao. Giai đoạn này nếu trời khô tưới 3 – 4ngày/lần.

Tưới qúa đẩm hay mưa nhiều dễ làm cho cây sầu riêng ra đọt non sẽ làm rụng trái non hay làm cho trái bị sượng nhưng nếu thiếu nước trái sẽ phát triển chậm.

Do đó cần tưới đủ ẩm và đều đặn. Giữ mực nước trong mương vườn thường xuyên ở độ sâu khoảng 80cm từ mặt liếp. Tránh thay đổi đột ngột ẩm độ đất để hạn chế hiện tượng rụng trái.

+ Trước khi thu hoạch khoảng 15 – 20 ngày: Cắt nước để trái mau chín vì giai đoạn nầy trái sầu riêng không còn tăng trưởng nữa. Thời điểm cắt nước có thể muộn hơn trong mùa khô. Trong mùa mưa có thể kết hợp với đậy gốc bằng nylon để tránh cho trái bị nhão cơm hoặc ngưng thu hoạch 2 ngày sau khi có mưa lớn.

– Tỉa trái:

+ Thực hiện 2 hay 3 lần ở giai đoạn 4 – 10 tuần sau khi đậu trái nhằm để lại những trái ở những vị trí thích hợp.

+ Không để trái ở trên ngọn cây (trừ những trái ở sát thân chính), trái mọc trên thân chính, trái ở những cành nhỏ.

+ Chừa lại 1 – 2trái/chùm.

+ Số trái/cây tùy tuổi cây, tình trạng cây, giống sầu riêng.

– Thu hoạch:

Nên thu trái từ trên cây và không để trái rụng xuống đất, cần chú ý không cho sự va chạm làm trầy xước trái, giữ trái nơi thoáng mát… để giảm sự thiệt hại ở giai đoạn sau thu hoạch.

* Chú ý:

+ Lượng phân bón/cây ở mỗi lần bón nên điều chỉnh tăng giảm theo tình trạng cây, đất đai, thời tiết, loại phân sử dụng…

+ Vị trí bón: Bón xung quanh gốc theo hình chiếu của tán cây.

+ Nên sử dụng các phân NPK có bổ sung Can xi (Ca), Ma nhê (Mg).

SÂU BỆNH HẠI CHÍNH

Sâu đục trái (Conogethes punctiferalis [Guenée]):

Trưởng thành hoạt động về đêm, ban ngày chúng ẩn nấp ở nơi tối hoặc mặt dưới lá cây. Cả thành trùng đực và cái đều ăn mật hoa. Trưởng thành cái đẻ trứng trên vỏ trái non, sâu non nở ra thường ăn ở phần vỏ rồi đục vào trong trái, sau đó hóa nhộng ngay trên đường đục hoặc ra ngoài và hóa nhộng trên vỏ trái.

Sâu gây hại từ khi trái còn non đến trưởng thành, đặc biệt gây hại nặng trên các chùm trái hơn là các trái đơn độc, trái non bị hại sẽ biến dạng và rụng, trái lớn bị hại sẽ làm ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm và còn tạo điều kiện các loại nấm bệnh tấn công theo vết đục làm thối trái.

Cách quản lý:

– Bao trái.

– Cắt tỉa trái xấu phát triển kém, trái bị nhiễm trong chùm trái.

– Dùng cây nhỏ tách các trái đóng cặp để hạn chế thiệt hại.

– Tạo điều kiện cho thiên địch phát triển để hạn chế sâu hại, có một số loài ong có thể ký sinh trứng, ấu trùng và nhộng, ngoài ra còn có các loài ăn thịt như bọ xít, kiến và nhện.

– Phun thuốc bảo vệ thực vật. Cần chú ý thời gian cách ly của mỗi loại thuốc để đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

Rầy phấn (Allocaridara malayensis Crawford):

Đây là đối tượng gây hại rất quan trọng trên cây sầu riêng. Trưởng thành và ấu trùng thường sống ở mặt dưới lá và chích hút các lá non, lá bị hại thường có những chấm vàng, khi bị hại nặng lá thường khô, cong lại và rụng hàng loạt làm ảnh hưởng đến sự phát triển, ra hoa, đậu qủa của cây.

Ngoài ra, rầy còn tiết ra mật ngọt tạo điều kiện để nấm bồ hóng phát triển. Rầy phát triển nhiều trong các tháng nắng.

Cách quản lý:

– Điều khiển cây ra đọt non đồng loạt để dễ trừ rầy.

– Sử dụng bẫy màu vàng để bắt trưởng thành.

– Phun nước khi lá vừa mở để làm giảm mật độ rầy.

– Trong tự nhiên có nhiều loài ong ký sinh họ Encyrtidae, bọ rùa, Green lacewing và nhện gây hại cho rầy, do đó cần tạo điều kiện cho chúng phát triển nhằm giảm mật độ rầy.

– Khi mật độ rầy cao có thể dùng các loại thuốc bảo vệ thực vật như Confidor, Actara, Applaud… phun theo liều lượng khuyến cáo.

Nhện đỏ (Eutetranychus sp.):

Thành trùng có hình oval dẹp màu đỏ đến đỏ nâu dài 0,3 – 0,4mm, con đực nhỏ hơn con cái chiều dài trung bình 0,26mm phần bụng thon dần về phía cuối bụng. Thành trùng sống khoảng 6 – 7 ngày. Nhện đẻ từng trứng rải rác trên mặt lá, trứng nhện hình tròn màu đỏ.

Nhện đỏ phát triển mạnh trong điều kiện nóng ẩm ở vùng nhiệt đới, khả năng sinh sản khá cao, vòng đời rất ngắn, gây hại bằng cách ăn biểu bì mặt lá tạo thành những chấm trắng li ti và tiết độc tố. Khi bị nhiễm nặng lá chuyển màu vàng và rụng ảnh hưởng đến khả năng ra hoa và đậu trái của cây.

Cách quản lý:

– Trong điều kiện tự nhiên nhện hại bị nhiều loại thiên địch tấn công như nhện nhỏ ăn mồi… cần tạo điều kiện cho thiên địch phát triển cũng hạn chế được tác hại của nhện.

– Phun nước lên tán lá tạo ẩm độ cao trong vườn trong mùa nắng có thể làm giảm mật độ của nhện đồng thời cũng tạo điều kiện cho thiên địch phát triển.

– Khi mật độ nhện cao mới dùng các loại thuốc bảo vệ thực vật như Comite 75EC, Kumulus, Sulox 80WP, Dầu DC-Tron plus… để phun theo liều lượng khuyến cáo.

Rệp sáp (Planococcus sp.):

Loài này gây hại khá phổ biến trên sầu riêng, chúng tấn công trên trái từ khi trái còn non, rệp sáp trong qúa trình gây hại còn tiết ra mật đường tạo điều kiện thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển làm giảm giá trị thương phẩm của trái.

Cách quản lý:

– Phun nước vào trái có thể rửa trôi rệp sáp trên trái, tỉa bỏ những trái non bị nhiễm nặng, tránh trồng xen với những cây bị nhiễm rệp sáp như mãng cầu.

– Chỉ nên phun thuốc bảo vệ thực vật khi mật độ rệp cao.

BỆNH HẠI

Bệnh xì mủ chảy nhựa (do nấm Phytophthora palmivora):

Đây là bệnh hại rất quan trọng trên cây sầu riêng. Tác nhân do nấm Phytophthora palmivora gây hại, nấm lưu tồn chủ yếu trong đất, trong nước, trong các bộ phận bị bệnh của cây sầu riêng.

Nấm tấn công phần rễ non gần mặt đất và lan dần đến phần vỏ của gốc cây sát mặt đất và di chuyển lên phần vỏ của thân cây làm vỏ cây bị biến màu nâu, sau đó vỏ cây bị thối và chảy nhựa ra, phần gỗ tại vết bệnh cũng hóa nâu. Đôi khi nấm còn tấn công các cành phía trên cao của cây sầu riêng.

Bệnh thường xảy ra trong mùa mưa và dễ dàng gây hại trong các vườn trồng dày có tán lá rậm rạp, chăm sóc kém. nấm bệnh còn tấn công trên trái làm thối trái hàng loạt và trên lá sầu riêng nhất là các lá non ở các cà.

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG – NHẬN BIẾT SỚM, PHÒNG NGỪA ĐÚNG CÁCH

Bệnh đốm nâu là một trong những bệnh phổ biến, xuất hiện trên nhiều loại cây trồng như: thanh long, xoài, tiêu, cà phê, lúa, rau màu… Nếu không phát hiện và xử lý kịp thời, bệnh có thể làm giảm năng suất, chất lượng nông sản và gây hại lâu dài đến sức khỏe cây trồng.

NGUYÊN NHÂN BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG

NGUYÊN NHÂN BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG
NGUYÊN NHÂN BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG

Bệnh đốm nâu chủ yếu do nấm gây hại như Cercospora spp., Helminthosporium spp., hoặc Neoscytalidium dimidiatum (trên thanh long). Các loại nấm này phát tán qua gió, nước mưa, công cụ chăm sóc, hoặc tồn tại trong tàn dư thực vật, đất bị nhiễm bệnh.

ĐIỀU KIỆN BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG ?

Mưa nhiều, ẩm độ cao, thiếu ánh sáng.

Vườn rậm rạp, thoát nước kém, tán lá không thông thoáng.

Bón thừa đạm, thiếu cân đối giữa các yếu tố dinh dưỡng.

Dùng giống không sạch bệnh, đất canh tác liên tục một loại cây.

DẤU HIỆU BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG ?

DẤU HIỆU BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG ?
DẤU HIỆU BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG ?

Trên lá, thân, cành hoặc quả xuất hiện đốm nhỏ tròn hay bầu dục, màu nâu sẫm hoặc nâu đen.

Trung tâm đốm có thể bị khô, rách, đôi khi thấy viền vàng hoặc màu xám bạc.

Nhiều vết đốm liên kết nhau tạo thành mảng lớn, gây cháy lá, rụng lá, hoặc thối quả.

Trên cây thanh long, bệnh thường biểu hiện bằng các đốm nâu khô, hơi lõm, lan rộng, làm khô cành, thối trái.

TÁC HẠI CỦA BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG ?

Làm giảm diện tích quang hợp, cây sinh trưởng yếu.

Rụng lá, rụng quả non, giảm năng suất.

Quả bị bệnh xấu mã, giảm giá trị thương phẩm.

Cây bị bệnh nặng có thể chết dần nếu không xử lý kịp thời.

SỬ DỤNG ROMIO 300WP CHUYÊN TRỊ BỆNH ĐỐM NÂU GÂY HẠI TRÊN CÂY TRỒNG 

ROMIO 300WP – THUỐC TRỪ BỆNH SƯƠNG MAI, ĐỐM LÁ, THÁN THƯ

THÀNH PHẦN ROMIO 300WP

Copper Oxychloride 300g/kg

Phụ gia đủ 1kg 

CÔNG DỤNG ROMIO 300WP

ROMIO 300WP
ROMIO 300WP

Theo từ điển thuốc BVTV hoạt chất Copper Oxychloride có khả năng phòng trừ các loại bệnh gây hại cây trồng như: Sương mai, giả sương mai, mốc sương, đốm lá, rỉ sắt, loét sẹo, thối trái, đốm vòng, thối nhũn, cháy bìa lá, đốm đen, thối củ, vàng lá, xì mủ, nứt thân, nứt quả, thán thư, rụng lá, rụng đốt, chết nhanh, chết chậm, …trên tiêu, cà phê, cao su, điều, cam, chanh, quýt, bưởi, sầu riêng, nhãn, xoài, mận, nho, thanh long,…

LỜI KẾT:

Bệnh đốm nâu không chỉ gây hại trước mắt mà còn ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe vườn cây. Việc quản lý bệnh theo hướng tổng hợp (IPM) – kết hợp biện pháp sinh học, canh tác và hóa học – là giải pháp bền vững giúp cây trồng khỏe mạnh, cho năng suất cao và ổn định.

Bà con còn thắc mắc gì vui lòng liên hệ về hotline 0984.535.820 để được đội ngũ kỹ sư tư vấn miễn phí hoặc liên hệ Website vietnamnongnghiepsach.com.vn. Chúc quý bà con có một vụ mùa bội thu !

BỆNH THỐI NHŨN – “KẺ PHÁ HOẠI THẦM LẶNG” CỦA NHÀ VƯỜN TRÁI TRÊN CÂY MÍT

Mít – loại trái cây được người tiêu dùng ưa chuộng và mang lại giá trị kinh tế cao – đang ngày càng được trồng rộng rãi tại nhiều địa phương. Tuy nhiên, trong suốt quá trình sinh trưởng và cho trái, mít lại rất dễ gặp phải bệnh thối nhũn trái, gây hư hỏng nặng nề và làm mất giá trị thương phẩm. 

TÁC NHÂN GÂY BỆNH THỐI NHŨN TRÊN CÂY MÍT ?

TÁC NHÂN GÂY BỆNH THỐI NHŨN TRÊN CÂY MÍT ?
TÁC NHÂN GÂY BỆNH THỐI NHŨN TRÊN CÂY MÍT ?

Bệnh do nấm Rhizopus nigricans gây ra. Bệnh gây hại trên hoa và trái non, làm trái thối đen và rụng. Vết bệnh khởi đầu là đốm màu nâu đen, sau bệnh lan dần cả trái, làm cả trái bị thối đen.

Trên vết bệnh sản sinh các sợi nấm và túi bào tử màu đen mọc tua tủa. Bệnh có thể xuất hiện bất cứ vị trí nào của trái. Bệnh lây lan nhanh từ trái này sang trái khác. Bệnh chỉ gây hại giai đọan trái non.

TRIỆU CHỨNG GÂY BỆNH THỐI NHŨN TRÊN  CÂY MÍT ?

Bệnh phát triển nhiều trong điều kiện thời tiết nóng và mưa nhiều, vườn cây rậm rạp, đất ẩm thấp đọng nước. Sợi nấm sẽ sản sinh rất nhiều bào tử và lây lan rất nhanh trong điều kiện có gió, mưa.

TÁC NHÂN GÂY BỆNH THỐI NHŨN TRÊN CÂY MÍT ?

TÁC NHÂN GÂY BỆNH THỐI NHŨN TRÊN CÂY MÍT ?
TÁC NHÂN GÂY BỆNH THỐI NHŨN TRÊN CÂY MÍT ?

Giảm sản lượng nghiêm trọng, ảnh hưởng năng suất toàn vườn.

Trái mất giá trị thương phẩm, không tiêu thụ được.

Lan nhanh trong mùa mưa, gây khó khăn cho việc kiểm soát.

Gây thiệt hại lớn về kinh tế nếu trồng mít với quy mô thương mại.

BÀ CON SỬ DỤNG ATM CHUYÊN MÍT ĐỂ SỬ DỤNG TRỊ BỆNH THỐI NHŨN TRÊN CÂY MÍT

ATM CHUYÊN MÍT – PHÂN BÓN LÁ ĐẠM TRUNG VI LƯỢNG HẠN CHẾ XƠ ĐEN, XÌ MỦ MÍT

THÀNH PHẦN ATM CHUYÊN MÍT

  • CaO: 18%;
  • Bo (B): 2108ppm;
  • MgO: 0,028%;
  • Nts : 2%.
  • Hỗ trợ chất kháng sinh hạn chế nấm, vi khuẩn.
  • Phụ gia đặc biệt vừa đủ 100%.

CÔNG DỤNG ATM CHUYÊN MÍT

ATM CHUYÊN MÍT
ATM CHUYÊN MÍT

Sản phẩm ATM và chất phụ gia hỗ trợ là áo giáp bảo vệ và ngăn ngừa vi khuẩn, nấm bệnh xâm nhập gây bệnh xơ đen, xì mủ mít.

Hạn chế nứt tráinám trái, vẹo trái, thối trái, sượng trái và rụng trái non.

Giúp trái to, nở gai, vàng cơm, đặc ruột, nặng ký.

LỜI KẾT:

Bệnh thối nhũn trái mít là một trong những “nỗi ám ảnh” của nhiều nhà vườn, đặc biệt vào mùa mưa. Tuy nhiên, với kiến thức đúng, biện pháp phòng trị kịp thời và chăm sóc cẩn thận, chúng ta hoàn toàn có thể khống chế bệnh, bảo vệ vườn mít luôn tươi tốt, trái thơm ngon và đạt năng suất cao.

Bà con còn thắc mắc gì vui lòng liên hệ về hotline 0984.535.820 để được đội ngũ kỹ sư tư vấn miễn phí hoặc liên hệ Website vietnamnongnghiepsach.com.vn. Chúc quý bà con có một vụ mùa bội thu !

BỆNH ĐỐM DẦU TRÊN CÂY CHANH DÂY

Tác nhân: do vi khuẩn Pseudomonas passiflorae gây ra.

Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Bệnh gây hại trên lá, thân và quả dẫn đến sự mất mùa thậm chí có thể gây chết cây.

– Trên lá: bệnh tạo nên những vết thương từ màu ô liu tới màu nâu, thường bao quanh bởi quầng sáng màu vàng nhạt, bệnh nặng dẫn đến rụng lá, trên thân còn non, dấu hiệu đầu tiên của sự xâm nhiễm là những vết lõm màu xanh đen, mọng nước. Sau sẽ phát triển thành màu nâu sáng, có viền rõ ràng với phần không bị bệnh.

– Trên thân dây: 

Trên thân còn non dấu hiệu đầu tiên của sự xâm nhiễm là những vết lõm màu xanh đen, mọng nước. Sau sẽ phát triển thành màu nâu sáng, có viền rõ ràng với phần không bị bệnh. Trên thân gỗ già, triệu chứng ban đầu là những đốm nhỏ hình tròn có màu xanh đen, hơi lõm xuống, sau đó lan rộng ra và có màu nâu tối, những vết bệnh này bao quanh chồi non và có thể gây chết cây nếu bị bệnh nặng (không có biện pháp trị bệnh kịp thời).

– Trên quả:

Những dấu hiệu đầu tiên của sự nhiễm bệnh trên trái là trái nhỏ, mất màu xanh bóng tự nhiên.

+ Bệnh xuất hiện các vết loang từ phía đuôi trái, sau đó loang nhanh lên phần cuống trái.

+ Lúc mới nhiễm bệnh trái thường có màu xanh tối sũng nước, vài ngày sau bệnh phát triển vỏ trái thường chuyển sang màu nâu nhạt, nhìn tổng thể như bị luộc chín.

+ Khi bệnh phát triển mạnh trái bị thối, đôi khi lõm vào trong, bệnh nặng khiến cho trái rụng hàng loạt. 

Biện pháp phòng trừ:

– Biện pháp canh tác:

+ Cắt tỉa các dây chanh dây gần sát mặt đất, đảm bảo các dây chanh dây cách mặt đất ít nhất 20-30cm. Đa số mầm bệnh phát sinh và lây lan từ đất, nhất là vào mùa mưa do đó chúng ta cần phải loại bỏ nguồn bệnh lây lan qua những dây chanh gần sát mặt đất.

+ Cắt tỉa các lá già không cần thiết, các lá bị bệnh, loại bỏ tất cả các trái bị nhiễm bệnh còn trên giàn và những quả bị bệnh đã rụng dưới đất (tránh lây nhiễm).

+ Thu gom sạch tàn dư của cây, đặc biệt là những cây bị bệnh và cỏ trên vườn đem tiêu hủy để hạn chế nguồn bệnh ban đầu trên đồng ruộng cho vụ sau.

+ Không nên trồng dày để vườn luôn thông thoáng, giảm bớt độ ẩm trong ruộng.

+ Bón phân cân đối giữa đạm, lân và kali, tăng cường bón thêm phân hữu cơ viên nở Hà Lan Agrogold 4-3-2, 70% HC; kết hợp thêm vôi bột

+ Kiểm tra vườn để phát hiện và nhổ bỏ sớm những cây bị bệnh đem tiêu hủy để tránh lây lan ra cây khác. Sau khi nhỏ bỏ bón vôi bột và phun thuốc gốc đồng (Super cook 85WP) vào chỗ vừa nhổ để khử trùng đất.

– Biện pháp hoá học: 

Kỹ sư công ty Nông Nghiệp Hoàng Minh đã thí nghiệm thành công trong việc phòng trị đốm dầu vi khuẩn trên chanh dây. Phương pháp như sau

– Lần 1: Sử dụng cặp Molbeng – Heroga với liều lượng: cặp 100ml hòa 150 lít nước phun ướt đều


– Lần 2 (sau 7 ngày): phun Physan 20SL với liều lượng 160ml/ 200 lít nước 

Sử dụng định kỳ  2 loại thuốc trên thì hiệu lực  trị bệnh cao hơn sử dụng đơn 1 loại

Nguồn: công ty Hoàng Minh

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

NÔNG NGHIỆP SẠCH SỐ 81 – CÂY QUẤT CẢNH

NÔNG NGHIỆP SẠCH SỐ 81 – CÂY QUẤT CẢNH


Nằm ven sông Hồng, làng Tứ Liên từ lâu đã có nghề trồng quất nổi tiếng với sản lương trên 40.000 cây mỗi năm. Mỗi năm, mỗi khi lớp phù sa mới về, người trồng lại đắp lại một lượt phù sa mới để những gốc quất lại sinh trưởng.


https://www.youtube.com/watch?v=y9odW6M8PuA

BỆNH HÉO XANH – HÉO TƯƠI – HÉO RŨ – CHẾT ẺO TRÊN CÂY CÀ CHUA

Tên khoa học: Pseudomonas solanacearum

Tác nhân gây héo xanh (héo tươi, héo rũ, chết ẻo):

Bệnh héo xanh do vi khuẩn có tên khoa học là Pseudomonas solanacearum Smith gây ra, còn có tên khác là Ralstoria solanacearum. Đây là loài kí sinh đa thực, rất phổ biến ở vùng nhiệt đới. Loài vi khuẩn này có nhiều chủng và nòi; chúng tồn tại trong tự nhiên trên các cây kí chủ khác nhau, do vậy nguồn bệnh lúc nào cũng có.

Vi khuẩn hình gậy, 1- 3 lông roi mọc một đầu, kích thước 0.4- 0.8x 0.5µm.

Trên môi trường khuẩn lạc có màu trắng sữa, bóng, trên môi trường TZC có điểm hồng ở giữa

Thích hợp ở nhiệt độ t = 24oC, tối đa 27oC, tối thiểu 18oC.

Vi khuẩn này phát hiện gây hại trên 30 loại cây trồng khác nhau, thuộc loại chuyên hoá rộng.

Quy luật phát sinh gây hại của bệnh:

Vi khuẩn phát triển mạnh ở nhiệt độ 30-350C. nguồn bệnh tồn tại rất lâu trong đất và củ bệnh. Vi khuẩn xâm nhập vào cây qua vết thương.lan truyền qua cây bệnh và dụng cụ lao động.

https://www.youtube.com/watch?v=Q6qv9N6biks&feature=youtu.be

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

CÁCH PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH XÌ GÔM – CHẢY MỦ TRÊN CÂY BƯỞI

CÁCH PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH

XÌ GÔM – CHẢY MỦ TRÊN CÂY BƯỞI


Bệnh xì gôm, chảy nhựa mủ gốc là loại bệnh nguy hiểm và khó trị. Bệnh làm cho cây suy giảm sức sinh trưởng, còi cọc, chết lụi dần nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời. Ngoài cây ăn quả có múi thì bệnh còn gây hại cả trên các cây ăn quả khác như: xoài, nhãn, đu đủ, táo…do đó việc phòng trị chúng đôi khi cũng gặp không ít khó khăn do nguồn bệnh tồn tại khá nhiều trong tự nhiên và phổ ký chủ gây bệnh cũng rất rộng.

1. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh xì gôm chảy nhựa mủ ở gốc do chủng nấm Phytophthora sp. gây ra (loài Phytophthora parasiticaPhytophthora citrophthora thường gây bệnh trên các bộ phận trên mặt đất của cây đặc biệt là phần gần sát phía gốc). Các chủng nấm Phytophthora sp. tồn tại rất phổ biến trong tự nhiên ở nhiều loại đất canh tác nông nghiệp từ đất trồng cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp…

2. Đặc điểm phát sinh, phát triển của bệnh

Bệnh thường phát sinh và phát triển mạnh trên những vườn cây ăn quả kém chăm sóc, dinh dưỡng không cân đối, đất thiếu hữu cơ, cây còi cọc chậm phát triển, cây trồng với mật độ quá dày thiếu ánh sáng, vùng đất trũng thấp, thường xuyên ngập nước có độ ẩm cao, khó tiêu nước… bệnh thường phát triển mạnh trong điều kiện mưa ẩm (hoặc vừa kết thúc mưa ẩm chuyển sang nắng ráo), nhiệt độ thích hợp để bệnh phát triển mạnh 18-26oC.

3. Cơ chế phát sinh, phát triển bệnh xì gôm, chảy nhựa mủ

Trong điều kiện tự nhiên thuận lợi (mật độ trồng dày, thiếu ánh sáng, mưa ẩm, kém thoát nước) nấm Phytophthora sp. phát sinh mạnh mẽ và xâm nhập vào cây trồng theo những cách sau:

+ Trong quá trình hấp thu dinh dưỡng và nước của bộ rễ (phần lông hút, phần rễ còn non) chúng tiết ra một số acid hữu cơ (bộ rễ có thể là cộng sinh với một số vi sinh vật) việc này giúp hòa tan dinh dưỡng để thuận lợi cho việc hấp thu dinh dưỡng của cây.

Đôi khi  các chất này lại gây sự “chú ý” hay thu hút các loài nấm bệnh trong số đó có Phytophthora sp. Loài nấm này lúc đầu có thể chưa xâm nhập được ngay vào phần chóp rễ(rễ non), tuy nhiên qua thời gian bộ rễ bị tổn thương cơ giới hoặc bị tuyến trùng hại mà nấm Phytophthora sp. có thể dễ dàng xâm nhập vào bộ rễ sau đó phát triển mạnh rồi lây lan rộng.

+ Các bào tử nấm khi phát triển chúng sẽ xâm nhập qua các vết thương hở của thân cây, vỏ cây phần sát gốc gây. Sau một thời gian chúng phát triển mạnh và gây bệnh.

4. Triệu chứng bệnh

4.1 Triệu chứng bệnh trên lá: Nếu nấm Phytophthora sp. gây hại xuống cả bộ rễ thì biểu hiện rất rõ ràng ở lá lá: lá vàng nhỏ không đều, mất màu xanh của diệp lục, gân lá cũng không còn màu xanh, cây còi cọc chậm phát triển, các đỉnh sinh trưởng khi mới phát sinh thường nhỏ, đôi khi xoăn và chết lụi dần vì “đuối sức” do bộ rễ không thực hiện được chức năng sinh lý (hấp thu nước và dinh dưỡng nuôi cây).

benh-xi-gom-chay-mu-khai-2016.png

4.2 Triệu chứng bệnh trên thân, vỏ cây: Khi mới phát sinh vết bệnh thường bị sũng nước (phần sát gốc), sau đó thối nâu có thể ăn sâu cả vào gỗ và có mùi hôi khó chịu. Khi bệnh nặng vết bệnh phát triển xung quanh phần gốc và có thể lan lên cành cấp 1.

Tại các vết bệnh xuất hiện các dịch nhựa màu vàng (do nấm hại các tế bào vỏ cây làm chúng mất nước và thối nhũn tạo ra dịch nhầy màu vàng). Sau một thời gian dịch vàng này mất nước (bị khô một phần) tạo ra một loại dịch dạng gel có màu vàng sẫm dẻo trông giống như gôm vì thế một số nơi còn gọi là bệnh xì gôm, chảy mủ.

Trong nhiều trường hợp bệnh phát sinh tại cổ rễ rồi lan xuống các chế chính, làm cho các rễ tơ không phát triển được, khiến cho cây còi cọc, khi bệnh lây lan toàn bộ rễ hầu hết các cây này không thể cứu chữa và chúng thường chết lụi dần.

Trên thực tế các nhà khoa học đã phân lập được các loài Phytophthora sp. mỗi dòng chúng sẽ gây ra các loại bệnh đặc trưng và tồn tại ở các bộ phận khác nhau của cây. Chẳng hạn loài Phytophthora nicotianae (P. parasitica) tồn tại phổ biến trong điều kiện á nhiệt đới, gây bệnh thối gốc, chảy nhựa và thối rễ, nhưng ít gây hại trên phần thân cây (chủ yếu gây hại các bộ phận dưới mặt đất như bộ rễ). Loài Phytophthora citrophthora cũng gây hiện tượng chảy nhựa thân và thối rễ, tuy nhiên loài này chủ yếu gây hại các bộ phận trên mặt đất của cây như thân cây, hoa và quả…

5. Cách phòng trị bệnh xì gôm, chảy nhựa mủ

5.1 Kỹ thuật phòng bệnh

+ Bố trí mật độ cây phù hợp với từng dòng, giống cây trồng sao cho phù hợp. Không trồng với mật độ quá dày, cây sẽ đan tán nhau, phần phía dưới gốc thường xuyên thiếu ánh sáng là điều kiện bệnh phát sinh, phát triển mạnh.

+ Thường xuyên cắt tỉa tán thông thoáng, định hình kiểu tán mở cho cây. Phần phía dưới tán nên định kỳ dọn và thu gom cỏ dại, không để cỏ dại phát triển mạnh.

+ Bón phân cân đối và đẩy đủ, không thừa đạm, bổ sung dinh dưỡng trung vi lượng phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của cây. Ưu tiên sử dụng phân bón hữu cơ sinh học (qua lá và gốc). Luôn duy trì ổn định hàm lượng hữu cơ trong đất, đất thiếu hữu cơ sẽ là tiền đề cho bệnh lây lan và phát triển mạnh, bộ rễ kém phát triển.

+ Phun phòng trừ sâu bệnh tổng hợp, dùng các chế phẩm nano Oxyclorua đồng kết hợp với nano hợp kim bạc đồng (gọi tắt là nano bạc đồng) phun qua lá và quét gốc sau khi thu hoạch.

5.2 Trị bệnh xì gôm chảy mủ

Khi thấy triệu chứng bệnh ở gốc (xì gôm, chảy nhựa mủ) tức là bệnh đã phát triển tương đối mạnh, lúc này phần vỏ cây và gỗ phía trong đã bị gây hại. Do đó bà con cần tiến hành triển khai đồng bộ các biện pháp chăm sóc riêng cho những cây bị bệnh:

+ Trong trường hợp bệnh nặng, ngừng ngay các công việc bón phân nuôi hoa, quả (nếu cây đang trong thời kỳ ra hoa đậu quả, nuôi quả). Việc bón phân qua lá hoặc rễ lúc này chỉ làm tình trạng bệnh trở lên phức tạp hơn. Nếu bệnh nhẹ, cây còn sức sinh trưởng nên chọn các loại phân hữu cơ sinh học, bón lượng ít, chia theo từng giai đoạn để bón.

+ Tại những phần vỏ cây bị bệnh bà con tiến hành các bước xử lý sau đây:

Bước 1: dùng dụng cụ chuyên dụng chà xát, cạo sạch lớp vỏ đã bị bệnh (làm sạch bề mặt vỏ cây). Phơi nắng cho khô, trong trường hợp nếu thời tiết bất lợi (không nắng, mưa ẩm kéo dài, cây bị bệnh nặng) cần xử lý ngay phải dùng khăn khô lau sạch nước, hoặc dùng máy sấy sấy khô phần vỏ cây kết hợp dùng cây gậy nhỏ một đầu quấn vải khô có thẩm dầu (tạo thành ngọn đuốc nhỏ) đốt và hơ nhẹ vết bệnh cho khô kiệt nước và sạch ẩm (những phần vỏ cây khô vừa cạo, có vết sần sùi có thể đốt cháy ở mức độ tương đối).

Bước 2 (rất quan trọng): dùng chế phẩm dạng nano bạc đồng có kích thước siêu nhỏ diệt nấm Phytophthora sp. Cụ thể liệu trình thực hiện như sau:

Ngày thứ nhất: Dùng chế phẩm nano Oxyclorua đồng 10.000ppm dạng đậm đặc không pha loãng quét trực tiếp lên vết bệnh, một ngày 2 lần vào sáng/chiều.

Ngày thứ hai: Dùng chế phẩm nano hợp kim bạc đồng 500/500ppm kết hợp với chế phẩm nano bạc 500ppm pha loãng với nước theo tỷ lệ 1:2(hoặc 3) quét trực tiếp lên vết bệnh, quét ngày 2 lần vào sáng/chiều như trên.

Ngày thứ ba: Làm giống ngày thứ nhất

Ngày thứ tư: Làm giống ngày thứ hai

Cứ như vậy làm liên tiếp và so le theo công thức trên liên tục trong 5-10 ngày. Trước mỗi lần quét thuốc lại dùng khăn lau khô vết bệnh.

Lưu ý: Trong quá trình sử dụng chế phẩm nano Bạc đồng và nano Oxyclorua đồng nên bổ sung thêm chế phẩm AKH SUPER500 để tăng khả năng diệt nấm bệnh (hiệu quả triệt để, tránh tái phát).

Yêu cầu kỹ thuật:

+ Trước khi quét chế phẩm nano Oxyclorua đồng và nano bạc đồng hãy đảm bảo rằng vết bệnh được lau khô, không ẩm.

+ Vết bệnh trong quá trình xử lý phải thông thoáng, không được bưng kín. Rất nhiều bà con trong quá trình xử lý vết bệnh đã dùng vôi và đồng (thuốc bordeaux) quét lên thân cây tạo thành những lớp (mảng) thuốc dày đặc, ban đầu sau khi xử lý không thấy chảy nhựa mủ tưởng như đã khỏi tuy nhiên việc quét lớp thuốc dày chỉ làm ngưng chảy nhựa mủ ra bề mặt vỏ cây từ 1-2 ngày tạm thời, thực chất bên trong nấm bệnh vẫn “âm thầm” phát triển.

Sau nhiều ngày bệnh vẫn phát triển và đùn ra những dịch mủ dạng gel ngay trên bề mặt vỏ cây mặc dù vẫn quét thuốc bordeaux đều đặn. Các lớp thuốc dày đặc càng khiến cho các lớp quét thuốc sau không thấm được trực tiếp vào bên phía trong thân cây.

xi-gom-chay-mu

Sai lầm của bà con khi xử lý các chế phẩm thuốc không đúng cách, hình ảnh trên cho thấy nấm Phytophthora sp. vẫn phát triển, nhựa mủ vẫn chảy ra từ vỏ, thân cây mặc dù vẫn quét thuốc đều đặn

Ưu điểm của các dòng sản phẩm công nghệ nano:

+ Sản phẩm không độc hại, không có mùi sốc khó chịu như các dòng thuốc BVTV hóa học khác.

+ Hiệu quả diệt nấm khuẩn nhanh và mạnh. Các hạt nano bạc đồng, nano oxyclorua đồng có kích thước vô cùng nhỏ (10-15nm) nên chúng dễ dàng thẩm thấu vào trong thân cây giúp diệt nấm khuẩn triệt để theo cơ chế đặc thù (nano bạc đồng, nano oxyclorua đồng không gây ra hiện tượng kháng thuốc).

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

Nguồn: NanoTech

PHÒNG TRỪ BỌ CẮT LÁ HẠI XOÀI VÀO MÙA MƯA

PHÒNG TRỪ BỌ CẮT LÁ HẠI XOÀI VÀO MÙA MƯA


Trong mùa mưa, xoài ra đọt non rất nhiều, đây cũng là nguồn thức ăn cho các đối tượng sâu bệnh hại. Trong đó, bọ cắt lá là côn trùng khá phổ biến. Hiện nay, trên các vườn xoài giai đoạn đọt non đang xuất hiện bọ cắt lá gây hại nặng.

bọ cắt lá hại xoài

Bọ cắt lá có tên khoa học là Deporaus marginatus thuộc Bộ cánh cứng Coleoptera, họ Bọ đầu dài Curculionnidae. Trưởng thành bọ cắt lá là một loài cánh cứng, con cái cơ thể dài khoảng 5mm có màu nâu vàng, nhiều lông, miệng kéo dài như một cái vòi. Râu đầu màu đen. Con đực nhỏ hơn con cái, vòi ngắn hơn, cánh cứng màu nâu, viền cánh màu đen. Cả con đực và con cái ở phần đầu và ngực đều có màu đỏ cam. Trứng hình bầu dục dài 0,5mm, màu trắng sữa đến vàng nhạt, được đẻ rải rác ở mặt dưới lá, dưới lớp biểu bì gần gân lá. Sâu non màu xanh đen, không chân, đẩy sức dài khoảng 5-6mm. Nhộng màu nâu, dài 5mm.

Trưởng thành đẻ trứng rải rác dọc theo gân lá non, trên một lá có từ 10-20 trứng. Sau khi đẻ xong bọ trưởng thành cắn đứt lá ngay phía trên các vị trí đẻ trứng, phần lá bị cắt mang theo trứng rơi xuống đất. Sâu non sau khi nở đục từ gân chính ra mép lá, ăn phần mô lá (lá đã rụng xuống đất) và chừa lại một lớp màng mỏng phía trên lá. Sâu đẩy sức hóa nhộng trong đất.

Trứng nở trong vòng 2-3 ngày, ấu trùng có 3 tuổi sống trong đường hầm trên lá trong vòng 7-8 ngày, nhộng 9-11 ngày. Bọ trưởng thành có thể sống và đẻ trứng kéo dài hàng tháng.

Triệu chứng nhận biết là đọt non xoài bị cắt đứt ngang, vết cắt rất sắc giống như lấy kéo cắt, phần lá cắt rơi xuống đất và để lại phần cuống lá trên cây rất điển hình để nhận biết. Bọ cắt lá trưởng thành gây hại trên đọt non, làm lá bị đứt ngang, cành non có thể bị trụi lá, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây. Bọ cắt lá xuất hiện quanh năm, mật độ cao vào giai đoạn xoài ra đọt non.

* Biện pháp phòng trừ

– Thu gom và tiêu hủy các lá non bị cắn đứt rơi xuống đất để tiêu diệt trứng và ấu trùng nằm trong lá.

– Những vườn bị hại nặng nên cày xới đất ngay tán cây bị hại để diệt nhộng.

– Phun thuốc khi thấy bọ trưởng thành xuất hiện trong vườn. Sử dụng thuốc gốc Cúc tổng hợp như Sherpa 25EC, Decis 2.5EC, Cyperan 10EC,… phun ở giai đoạn lá lụa màu đỏ.

Nguyễn Thị Nguyệt – Chi cục Bảo vệ thực vật

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

 

 

 

BỆNH BÒ HÓNG

BỆNH BÒ HÓNG TRÊN CÂY XOÀI


Tác nhân:

Do nấm:  Capnodium mangiferae tạo bò hóng thành lớp, Meliola  mangiferae tạo bò  hóng đóng thành  đốm  rời nhau. Nấm thật  ra không gây hại  trực tiếp cho cây  vì không hút dinh  dưỡng từ cây.

Triệu chứng:

Lá hay bông  thường bị lớp bò hóng bám  trên bề mặt. Bò hóng có thể bám thành đốm hay phủ thành lớp trên mặt lá. 

Phòng trừ:

– Phun  thuốc diệt các loại  côn trùng tạo mật, như :rầy xanh,  rệp   dính,  rệp sáp…  bằng   Bassa,  Trebon,  Thiodan, Dimecron…
– Phun các loại thuốc trừ nấm gốc đồng, hay bằng bột lưu huỳnh (0,2%).

Ngoại cảnh:

Bệnh thường phát triển nặng  trong muà nắng và  vào muà mưa thưòng  sẽ bị rửa trôi đi.

Nấm chỉ phát  triển trên lớp  mật do rầy xanh, rệp dính,  rệp sáp… và sinh sản thành các bào tử đen bám dính vào  mặt lá, làm  giảm sự quang  hợp ở lá. 

KĨ THUẬT TRỒNG CHÔM CHÔM THÁI

KĨ THUẬT TRỒNG CHÔM CHÔM THÁI


Giống chôm chôm Thái là giống có trái lớn, trọng lượng 50-70 gram/trái, cơm dày, tróc tốt, hạt dẹt rất nhỏ, năng suất cao, chất lượng tốt, khi chín râu trái có màu xanh, vỏ có màu đỏ, xen chấm vàng rất hấp dẫn người tiêu dùng.


Hiện nay giống chôm chôm Java ít được thị trường ưa chuộng, do chất lượng và mùi vị kém. Chôm chôm nhãn chất lượng khá hơn nhưng cây cho năng suất thấp, trái nhỏ, râu trái khi chín thường héo khô, hình dạng và màu sắc quả ít hấp dẫn người tiêu dùng. Tập đoàn chôm chôm Thái nhập nội vào Việt Nam trồng tại vườn giống công ty Quốc Minh gồm nhiều giống trong đó có vài giống cho năng suất và chất lượng trái rất ngon. Giống được công ty chọn lọc và cung cấp cho thị trường hiện nay là giống có trái lớn, trọng lượng 50-70 gram/trái, cơm dày, tróc tốt, hạt dẹt rất nhỏ, năng suất cao, chất lượng tốt, khi chín râu trái có màu xanh, vỏ có màu đỏ, xen chấm vàng rất hấp dẫn người tiêu dùng. Đặc điểm của giống chôm chôm này là trái không có hiện tượng nứt khi có mưa như các dòng chôm chôm Thái hiện nay.


Kỹ thuật trồng

– Khoảng cách

Đất tốt trồng khoảng cách 10 m x 10 m, đất có độ phì thấp trồng dày hơn 8mx 8 m hay 9m x 9 m.

– Chuẩn bị hố trồng:

Hố trồng đào 50 cm x 50 cm x 50 cm, khi đào hố để riêng đất trên mặt ra một bên. Mỗi hố bón: 10-15 kg phân chuồng đã ủ hoai, 200-300 g Super Lân, trộn đều với đất mặt xung quanh, để nâng cao độ pH và phòng trừ mối, kiến nên trộn thêm với 50 g Basudin 10H và 0,5 kg vôi trộn đều với hỗn hợp đất mặt và phân lấp đầy hố.

– Trồng cây:

Dùng cuốc đào một lỗ nhỏ giữa hố trồng sâu hơn chiều cao túi đựng cây giống khoảng 2-3 cm. Sau đó, dùng tay hoặc cuốc móc một lỗ ở tâm hố, kích thước to hơn bầu cây đôi chút, sau đó dùng các loại thuốc diệt nấm như: Dithane M-45, Mancozeb hay Ridomil,… phun xịt thật kỹ vào hố trồng cây, liều lượng theo chỉ dẫn trên bao thuốc.

Để túi cây trên mặt đất, dùng dao sắc rạch một đường xung quanh túi nilon, cách đáy 2-3 cm, bóc lấy đáy túi ra. Xem xét bộ rễ, cắt bỏ tất cả các phần rễ cái, rễ con ăn ra khỏi bầu đất, sau đó mới đem cây đặt vào hố trồng.

Dùng tay lấp và ém chặc lớp đất xung quanh để cố định gốc cây con không bị gió lay, chú ý đặt cây vào hố trồng sao cho sau khi trồng cổ rể ngang với mặt đất xung quanh, không trồng âm hay lấp phần thân cây. Sau khi trồng làm bồn đường kính 1-1,2 m, để khi tưới nước không chảy ra ngoài.

Trồng xong nhất thiết phải lấy cọc cắm, buộc cành vào cọc tránh gió lay gốc. Sau đó bắt buộc phải dùng tàu dừa che năng từ hướng Đông và hướng Tây, nếu có gió mạnh thì che thêm ở hướng gió thổi đến. Nên dùng tàu dừa để việc lưu thông không khí được dễ dàng, thời gian che khoảng 60 ngày).

Trong thời gian đầu có thể trồng xen thêm các loại cây rau màu khác để tăng thu nhập, đồng thời che phủ đất, giảm cỏ dại. Tuy nhiên, cần chú ý để cây chôm chôm được thông thoáng và hấp thụ được từ 60-70% ánh sáng tự nhiên. Mùa khô có thể dùng lá chuối hay rơm tủ gốc hạn chế thoát nước và giữ ẩm cho cây nhưng không để cỏ rác, lá cây mọc nhiều xung quanh gốc, bởi vì đó là những nguồn phát sinh nấm bệnh rất dễ lây lan qua cây chôm chôm.

Chăm sóc

– Tưới nước:

Tưới nước ngay sau khi trồng, trồng vào đầu hay giữa mùa mưa sẽ đỡ công tưới nước. Nếu trồng trong mùa khô phải tưới nước thường xuyên cho chôm chôm ít nhất 1 tháng đầu. Tuy nhiên, trồng trong điều kiện ngập úng, đất đóng váng, hay tưới quá nhiều nước dễ dẫn đến thoái hóa rễ do đó chúng ta nên xem xét tưới khi nào cần thiết.

– Cắt tỉa cành:

Trong năm đầu, việc cắt tỉa cành nhằm mục đích là tạo cho cây có hình dáng khoẻ mạnh, đầy đặn, cành lá tỏa đều quanh cây. Sau khi trồng nên cắt ngọn ở độ cao 60 cm đến 70 cm. Sau khi ngọn bị cắt sẽ có những cành mọc ra từ gốc và thân cây, nên chọn để lại những cành khỏe mập mọc cách xa nhau vừa phải, khoảng từ 4-5 cành mọc đều quanh thân, cành thấp nhất phải cao hơn mặt đất ít nhất là 70 cm. Khi các cành này mọc dài ra thì cắt ngọn chỉ chừa lại chiều dài khoảng 30-40 cm tính từ chỗ chạc lên.

Việc cắt tỉa này được tiến hành đều đặn trong suốt 18 tháng đầu. Sau đó không cắt tỉa nữa mà để cây mọc tự nhiên và chỉ cắt tỉa những cành vô ích như: cành cong queo, cành mọc chồng chéo nhau, cành sâu bệnh,…

– Bón phân

Chôm chôm có nhu cầu cao đối với N và K. Khi thiếu K cây bị bệnh khô cháy đầu lá. Phân bón cho chôm chôm có thể áp dụng như sau:

Năm thứ 1:

Sau khi trồng cứ 1-1,5 tháng bón phân 1 lần, bón cho mỗi gốc 50-100 g NPK(15:15:15), xịt bổ sung phân bón lá vi lượng như: number one hay Fetrilon-combi theo liều hướng dẫn, mục đích giúp cây có đủ dưỡng chất và chất vi lượng cần thiết khi bộ dễ chưa bén đất.

Phân NPK nên pha loãng với nước dùng bình vòi sen tưới quanh gốc hay rải đều phân một vòng tròn xung quanh gốc và phủ một lớp đất mỏng lên trên. Sau mỗi lần rải hay tưới phân nên cách xa gốc thêm 5-10 cm sẽ tạo điều kiện cho rễ cây vươn xa, cây sẽ phát triển nhanh và hạn chế đổ ngã khi có gió.

Năm thứ 2:

Lượng bón cho một gốc: 100g N+50g K2O (200g urê+80g KCl). Chia làm 2 lần để bón vào đầu và cuối mùa mưa.

Năm thứ 3:

Cây bắt đầu cho quả, lượng bón cho một cây là: 1,5 phân NPK theo tỷ lệ 2:1:2. Chia ra bón 2 lần vào trước ra hoa và sau khi thu hoạch.

Năm thứ 4:

Lượng phân tăng so với năm trước 0,5-1,0 kg/cây. Giữ nguyên tỷ lệ NPK là 2:1:2. Chia thành 4 lần để bón:

+ Lần 1: sau khi thu hoạch quả tiến hành tỉa cành, bón toàn bộ lân, 1/3N và 1/3 K2O.

+ Lần 2: trước khi nở hoa: bón 1/3N.

+ Lần 3: khi quả có đường kính 1-2cm. Bón 1/3 N và 1/3 K2O.

+ Lần 4: trước khi thu hoạch 1 tháng: Bón 1/3 kali.

– Những năm sau để đảm bảo cây cho quả ổn định, lượng phân bón được tăng dần lên:2-3 kg NPK cho một cây trong 1 năm và 10-30 kg phân chuồng.

Với năng suất 7,3 tấn/ha quả, chôm chôm lấy đi từ đất : 1,5kg N, 2kg P2O5 ; 11,7kg K2O; 5,9kg Ca; 2,7kg Mg trên 1ha. Vì vậy, cần thiết bón phân hàng năm cho chôm chôm để đảm bảo giữ năng suất quả ổn định trong nhiều năm.

– Chăm sóc để cây ra hoa

Sau thu hoạch đợt trước tỉa bỏ hoàn toàn các phát hoa đã cho trái, cắt bỏ cành khô, chồi vượt, bón phân hóa học, phân hữu cơ để cây nhanh phục hồi. Khi đợt đọt thứ 2 già hoàn toàn, tiến hành xiết nước làm bông, xiết nước cho đến khi lá hơi héo, quan sát trên các mầm đỉnh co lại như đầu que diêm, bắt đầu tưới nhữ nước, lượng nước bằng 2/3 lượng nước thông thường, chờ khoảng 4-6 ngày sau để theo dõi mầm đỉnh.

Nếu mầm đỉnh xòe ra theo đường đi thẳng, cánh lá ngắn thì khi tưới sẽ ra hoa.

Nếu thấy mầm đỉnh xòe to phát triển tốt thì khi tưới sẽ ra lá non. Gặp trường hợp này ta ngưng không tưới nữa theo dõi 7-10 ngày thấy hoa lộ rõ ta tiếp tục tưới. Nếu ra lá non ta ngưng tưới, sau 10-15 ngày lá non sẽ rụng lúc này ta tưới lại cây sẽ ra hoa.

Sau khi hoa đã rõ phải tưới nước thường xuyên, liên tục và đều đặn đảm bảo cung cấp đủ nước cho cây. Có thể dùng thêm các vật liệu tủ như rơm rạ để giảm ẩm độ trên mặt bồn và tăng cường giữ ẩm cho cây.

Ngoài bón phân qua đường gốc cần phun thêm Basfoliar hoặc canxi-nitrat nhằm bổ sung đạm, canxi và một số vi lượng như Mg2+ , Zn2+ ,Bo…, phun 2-3 lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày để chống nứt trái do thiếu Canxi và vi lượng. Chôm chôm có đặc điểm vỏ mỏng, tỷ lệ ăn được lớn do đó dễ bị nứt trái trong giai đoạn tạo cơm, vì vậy phun canxi và vi lượng là hết sức cần thiết.

Sâu bệnh hại

– Bệnh đốm mốc

Nguyên nhân do nấm Meliola commixta

Dùng các loại thuốc gốc đồng hay phun bột lưu huỳnh ở nồng độ 20g/bình 8 lít.

– Bệnh đốm bồ hóng

Bệnh gây hại chủ yếu ở mặt dưới lá. Đốm bệnh hình hơi tròn với viền không đều, kích thước 1-3 cm, đen. Bề mặt đốm bệnh hơi sần sùi do nấm bồ hóng phát triển trên đó. Có thể có nhiều đốm trên lá nhưng các đốm này thường rời nhau. Cạo lớp bồ hóng đi, bên dưới thấy mô lá bị thâm đen.

Phòng trị:

Dùng thuốc gốc đồng hay bột lưu huỳnh ở nồng độ 20g/bình 8 lít.

– Bệnh khô cháy hoa:

Nguyên nhân: do nấm Oidium sp

Bệnh gây hại chủ yếu ở mặt dưới lá. Đốm bệnh hình hơi tròn với viền không đều, kích thước 1-3 cm, đen (màu càng sậm khi đốm càng to). Bề mặt đốm bệnh hơi sần sùi do nấm bồ hóng phát triển trên đó. Có thể có nhiều đốm trên lá nhưng các đốm này thường rời nhau. Cạo lớp bồ hóng đi, bên dưới thấy mô lá bị thâm đen.

Phòng trị: Bằng các loại thuốc gốc đồng hoặc Benomyl 50WP nồng độ 10-20 g/bình 8 lít.

– Rệp sáp

Ấu trùng có cơ thể rất nhỏ khoảng 1 mm, màu hồng, có chân và có thể di chuyển. Khi trưởng thành rệp sáp không di động, bên ngoài cơ thể có lớp sáp trắng bao bọc. Rệp sáp gây hại làm trái phát triển kém, râu trái ngắn ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm của trái. Ngoài ra, còn tiết ra chất mật đường tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp của trái.

Phòng trị: Thu hái những trái bị hại nặng đem tiêu hủy, dùng các loại thuốc để phun trừ như Supracide, Lannate, Pyrinex, Fenbis, Vidithoate…

– Bệnh phấn trắng: Oidium sp, Nguyên nhân do nấm Phyllostista hoặc Pestalotia sp.

Gây hại trên hoa, trái nơi bệnh có đốm phấn màu trắng xám, đen. Bệnh tấn công trên trái non và cả trái đã lớn bị một lớp phấn trắng bao phủ sau đó chóp gai trái bị đổi màu đen, lan dần làm cả trái bị khô đen. Trái bị bệnh kém phát triển cơm nhỏ hoặc lép.

Phòng trị: Phun thuốc sớm để bảo vệ bông và trái non bằng bột lưu huỳnh (0,2%) hoặc Kumulus, Anvil, Tilt theo nồng độ khuyến cáo.

– Sâu đục trái

Thường gây hại vào giai đoạn trái trưởng thành và chín, ấu trùng sau khi nở đục vào ăn phần thịt hoặc vỏ hạt tạo thành những đường hầm ngoằn ngoèo, đôi khi nó có thể đục cả vào hạt.

Phòng trị: Thu hoạch trái sớm khi trái vừa chín, tránh để trái chín quá lâu trên cây. Bao trái bằng bao nylong có đục lỗ. Có thể phun thuốc Decis, Cymbush, Ambush khi trái chín 15 ngày để phòng trừ hiệu quả loại sâu này.

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033