CÁCH PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH XÌ GÔM – CHẢY MỦ TRÊN CÂY BƯỞI

CÁCH PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH

XÌ GÔM – CHẢY MỦ TRÊN CÂY BƯỞI


Bệnh xì gôm, chảy nhựa mủ gốc là loại bệnh nguy hiểm và khó trị. Bệnh làm cho cây suy giảm sức sinh trưởng, còi cọc, chết lụi dần nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời. Ngoài cây ăn quả có múi thì bệnh còn gây hại cả trên các cây ăn quả khác như: xoài, nhãn, đu đủ, táo…do đó việc phòng trị chúng đôi khi cũng gặp không ít khó khăn do nguồn bệnh tồn tại khá nhiều trong tự nhiên và phổ ký chủ gây bệnh cũng rất rộng.

1. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh xì gôm chảy nhựa mủ ở gốc do chủng nấm Phytophthora sp. gây ra (loài Phytophthora parasiticaPhytophthora citrophthora thường gây bệnh trên các bộ phận trên mặt đất của cây đặc biệt là phần gần sát phía gốc). Các chủng nấm Phytophthora sp. tồn tại rất phổ biến trong tự nhiên ở nhiều loại đất canh tác nông nghiệp từ đất trồng cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp…

2. Đặc điểm phát sinh, phát triển của bệnh

Bệnh thường phát sinh và phát triển mạnh trên những vườn cây ăn quả kém chăm sóc, dinh dưỡng không cân đối, đất thiếu hữu cơ, cây còi cọc chậm phát triển, cây trồng với mật độ quá dày thiếu ánh sáng, vùng đất trũng thấp, thường xuyên ngập nước có độ ẩm cao, khó tiêu nước… bệnh thường phát triển mạnh trong điều kiện mưa ẩm (hoặc vừa kết thúc mưa ẩm chuyển sang nắng ráo), nhiệt độ thích hợp để bệnh phát triển mạnh 18-26oC.

3. Cơ chế phát sinh, phát triển bệnh xì gôm, chảy nhựa mủ

Trong điều kiện tự nhiên thuận lợi (mật độ trồng dày, thiếu ánh sáng, mưa ẩm, kém thoát nước) nấm Phytophthora sp. phát sinh mạnh mẽ và xâm nhập vào cây trồng theo những cách sau:

+ Trong quá trình hấp thu dinh dưỡng và nước của bộ rễ (phần lông hút, phần rễ còn non) chúng tiết ra một số acid hữu cơ (bộ rễ có thể là cộng sinh với một số vi sinh vật) việc này giúp hòa tan dinh dưỡng để thuận lợi cho việc hấp thu dinh dưỡng của cây.

Đôi khi  các chất này lại gây sự “chú ý” hay thu hút các loài nấm bệnh trong số đó có Phytophthora sp. Loài nấm này lúc đầu có thể chưa xâm nhập được ngay vào phần chóp rễ(rễ non), tuy nhiên qua thời gian bộ rễ bị tổn thương cơ giới hoặc bị tuyến trùng hại mà nấm Phytophthora sp. có thể dễ dàng xâm nhập vào bộ rễ sau đó phát triển mạnh rồi lây lan rộng.

+ Các bào tử nấm khi phát triển chúng sẽ xâm nhập qua các vết thương hở của thân cây, vỏ cây phần sát gốc gây. Sau một thời gian chúng phát triển mạnh và gây bệnh.

4. Triệu chứng bệnh

4.1 Triệu chứng bệnh trên lá: Nếu nấm Phytophthora sp. gây hại xuống cả bộ rễ thì biểu hiện rất rõ ràng ở lá lá: lá vàng nhỏ không đều, mất màu xanh của diệp lục, gân lá cũng không còn màu xanh, cây còi cọc chậm phát triển, các đỉnh sinh trưởng khi mới phát sinh thường nhỏ, đôi khi xoăn và chết lụi dần vì “đuối sức” do bộ rễ không thực hiện được chức năng sinh lý (hấp thu nước và dinh dưỡng nuôi cây).

benh-xi-gom-chay-mu-khai-2016.png

4.2 Triệu chứng bệnh trên thân, vỏ cây: Khi mới phát sinh vết bệnh thường bị sũng nước (phần sát gốc), sau đó thối nâu có thể ăn sâu cả vào gỗ và có mùi hôi khó chịu. Khi bệnh nặng vết bệnh phát triển xung quanh phần gốc và có thể lan lên cành cấp 1.

Tại các vết bệnh xuất hiện các dịch nhựa màu vàng (do nấm hại các tế bào vỏ cây làm chúng mất nước và thối nhũn tạo ra dịch nhầy màu vàng). Sau một thời gian dịch vàng này mất nước (bị khô một phần) tạo ra một loại dịch dạng gel có màu vàng sẫm dẻo trông giống như gôm vì thế một số nơi còn gọi là bệnh xì gôm, chảy mủ.

Trong nhiều trường hợp bệnh phát sinh tại cổ rễ rồi lan xuống các chế chính, làm cho các rễ tơ không phát triển được, khiến cho cây còi cọc, khi bệnh lây lan toàn bộ rễ hầu hết các cây này không thể cứu chữa và chúng thường chết lụi dần.

Trên thực tế các nhà khoa học đã phân lập được các loài Phytophthora sp. mỗi dòng chúng sẽ gây ra các loại bệnh đặc trưng và tồn tại ở các bộ phận khác nhau của cây. Chẳng hạn loài Phytophthora nicotianae (P. parasitica) tồn tại phổ biến trong điều kiện á nhiệt đới, gây bệnh thối gốc, chảy nhựa và thối rễ, nhưng ít gây hại trên phần thân cây (chủ yếu gây hại các bộ phận dưới mặt đất như bộ rễ). Loài Phytophthora citrophthora cũng gây hiện tượng chảy nhựa thân và thối rễ, tuy nhiên loài này chủ yếu gây hại các bộ phận trên mặt đất của cây như thân cây, hoa và quả…

5. Cách phòng trị bệnh xì gôm, chảy nhựa mủ

5.1 Kỹ thuật phòng bệnh

+ Bố trí mật độ cây phù hợp với từng dòng, giống cây trồng sao cho phù hợp. Không trồng với mật độ quá dày, cây sẽ đan tán nhau, phần phía dưới gốc thường xuyên thiếu ánh sáng là điều kiện bệnh phát sinh, phát triển mạnh.

+ Thường xuyên cắt tỉa tán thông thoáng, định hình kiểu tán mở cho cây. Phần phía dưới tán nên định kỳ dọn và thu gom cỏ dại, không để cỏ dại phát triển mạnh.

+ Bón phân cân đối và đẩy đủ, không thừa đạm, bổ sung dinh dưỡng trung vi lượng phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của cây. Ưu tiên sử dụng phân bón hữu cơ sinh học (qua lá và gốc). Luôn duy trì ổn định hàm lượng hữu cơ trong đất, đất thiếu hữu cơ sẽ là tiền đề cho bệnh lây lan và phát triển mạnh, bộ rễ kém phát triển.

+ Phun phòng trừ sâu bệnh tổng hợp, dùng các chế phẩm nano Oxyclorua đồng kết hợp với nano hợp kim bạc đồng (gọi tắt là nano bạc đồng) phun qua lá và quét gốc sau khi thu hoạch.

5.2 Trị bệnh xì gôm chảy mủ

Khi thấy triệu chứng bệnh ở gốc (xì gôm, chảy nhựa mủ) tức là bệnh đã phát triển tương đối mạnh, lúc này phần vỏ cây và gỗ phía trong đã bị gây hại. Do đó bà con cần tiến hành triển khai đồng bộ các biện pháp chăm sóc riêng cho những cây bị bệnh:

+ Trong trường hợp bệnh nặng, ngừng ngay các công việc bón phân nuôi hoa, quả (nếu cây đang trong thời kỳ ra hoa đậu quả, nuôi quả). Việc bón phân qua lá hoặc rễ lúc này chỉ làm tình trạng bệnh trở lên phức tạp hơn. Nếu bệnh nhẹ, cây còn sức sinh trưởng nên chọn các loại phân hữu cơ sinh học, bón lượng ít, chia theo từng giai đoạn để bón.

+ Tại những phần vỏ cây bị bệnh bà con tiến hành các bước xử lý sau đây:

Bước 1: dùng dụng cụ chuyên dụng chà xát, cạo sạch lớp vỏ đã bị bệnh (làm sạch bề mặt vỏ cây). Phơi nắng cho khô, trong trường hợp nếu thời tiết bất lợi (không nắng, mưa ẩm kéo dài, cây bị bệnh nặng) cần xử lý ngay phải dùng khăn khô lau sạch nước, hoặc dùng máy sấy sấy khô phần vỏ cây kết hợp dùng cây gậy nhỏ một đầu quấn vải khô có thẩm dầu (tạo thành ngọn đuốc nhỏ) đốt và hơ nhẹ vết bệnh cho khô kiệt nước và sạch ẩm (những phần vỏ cây khô vừa cạo, có vết sần sùi có thể đốt cháy ở mức độ tương đối).

Bước 2 (rất quan trọng): dùng chế phẩm dạng nano bạc đồng có kích thước siêu nhỏ diệt nấm Phytophthora sp. Cụ thể liệu trình thực hiện như sau:

Ngày thứ nhất: Dùng chế phẩm nano Oxyclorua đồng 10.000ppm dạng đậm đặc không pha loãng quét trực tiếp lên vết bệnh, một ngày 2 lần vào sáng/chiều.

Ngày thứ hai: Dùng chế phẩm nano hợp kim bạc đồng 500/500ppm kết hợp với chế phẩm nano bạc 500ppm pha loãng với nước theo tỷ lệ 1:2(hoặc 3) quét trực tiếp lên vết bệnh, quét ngày 2 lần vào sáng/chiều như trên.

Ngày thứ ba: Làm giống ngày thứ nhất

Ngày thứ tư: Làm giống ngày thứ hai

Cứ như vậy làm liên tiếp và so le theo công thức trên liên tục trong 5-10 ngày. Trước mỗi lần quét thuốc lại dùng khăn lau khô vết bệnh.

Lưu ý: Trong quá trình sử dụng chế phẩm nano Bạc đồng và nano Oxyclorua đồng nên bổ sung thêm chế phẩm AKH SUPER500 để tăng khả năng diệt nấm bệnh (hiệu quả triệt để, tránh tái phát).

Yêu cầu kỹ thuật:

+ Trước khi quét chế phẩm nano Oxyclorua đồng và nano bạc đồng hãy đảm bảo rằng vết bệnh được lau khô, không ẩm.

+ Vết bệnh trong quá trình xử lý phải thông thoáng, không được bưng kín. Rất nhiều bà con trong quá trình xử lý vết bệnh đã dùng vôi và đồng (thuốc bordeaux) quét lên thân cây tạo thành những lớp (mảng) thuốc dày đặc, ban đầu sau khi xử lý không thấy chảy nhựa mủ tưởng như đã khỏi tuy nhiên việc quét lớp thuốc dày chỉ làm ngưng chảy nhựa mủ ra bề mặt vỏ cây từ 1-2 ngày tạm thời, thực chất bên trong nấm bệnh vẫn “âm thầm” phát triển.

Sau nhiều ngày bệnh vẫn phát triển và đùn ra những dịch mủ dạng gel ngay trên bề mặt vỏ cây mặc dù vẫn quét thuốc bordeaux đều đặn. Các lớp thuốc dày đặc càng khiến cho các lớp quét thuốc sau không thấm được trực tiếp vào bên phía trong thân cây.

xi-gom-chay-mu

Sai lầm của bà con khi xử lý các chế phẩm thuốc không đúng cách, hình ảnh trên cho thấy nấm Phytophthora sp. vẫn phát triển, nhựa mủ vẫn chảy ra từ vỏ, thân cây mặc dù vẫn quét thuốc đều đặn

Ưu điểm của các dòng sản phẩm công nghệ nano:

+ Sản phẩm không độc hại, không có mùi sốc khó chịu như các dòng thuốc BVTV hóa học khác.

+ Hiệu quả diệt nấm khuẩn nhanh và mạnh. Các hạt nano bạc đồng, nano oxyclorua đồng có kích thước vô cùng nhỏ (10-15nm) nên chúng dễ dàng thẩm thấu vào trong thân cây giúp diệt nấm khuẩn triệt để theo cơ chế đặc thù (nano bạc đồng, nano oxyclorua đồng không gây ra hiện tượng kháng thuốc).

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

Nguồn: NanoTech

BỆNH LOÉT TRÊN CÂY CÓ MÚI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

Bệnh loét phá hại cây ăn quả thường làm rụng quả và lá, cây cằn cỗi chóng tàn.

bưởi bị bệnh loét
triêu chứng bưởi bị bệnh loét trên quả và trên lá

Bệnh loét phá hại cây ăn quả thường làm rụng quả và lá, cây cằn cỗi chóng tàn. Ở vườn ươm, khi bị bệnh nặng cây con dễ chết, quả bị bệnh phẩm chất kém không thể xuất khẩu và cất trữ được. Ở nước ta, bệnh phá hại phổ biến tại tất cả các vùng trồng cây ăn quả có múi gây thiệt hại đáng kể cho người trồng, làm ảnh hưởng lớn tới nguồn hàng xuất khẩu.

1. Triệu chứng gây bệnh

Ở lá non, triệu chứng bệnh ban đầu là những chấm nhỏ có đường kính trên dưới 1mm, màu trong vàng, thường thấy ở mặt dưới của lá, sau đó vết bệnh mở rộng và phá vỡ biểu bì mặt dưới lá, màu trắng nhạt hoặc nâu nhạt. Lá bệnh không biến đổi hình dạng nhưng dễ rụng, cây con bị bệnh nặng thường hay rụng lá.

Vết bệnh ở quả cũng tương tự như ở lá: Vết bệnh xù xì màu nâu hơn, mép ngoài có gờ nổi lên, ở giữa vết bệnh mô chết rạn nứt. Toàn bộ chiều dày của vỏ quả có thể bị loét, nhưng vết loét không ăn sâu vào ruột quả. Bệnh nặng có thể làm cho quả biến dạng, ít nước, khô sớm, dễ rụng.

Bệnh làm cho quả xấu mã, không đạt tiêu chuẩn chất lượng để xuất khẩu. Vết bệnh trên cành và thân cây con cũng giống như ở trên lá nhưng sùi lên tương đối rõ ràng. Đặc biệt có trường hợp vết loét ở thân kéo dài tới 15 cm và ở cành tới 5 – 7 cm.

2. Nguyên nhân

Do vi khuẩn Xanthomomas campestris pv. citri (Hasse) Dye. Vi khuẩn hình gậy, một đầu có một lông mao, gram âm, háo khí. Khuẩn lạc trên môi trường nuôi cấy màu vàng bóng, hơi hồng, rìa hơi lượn sóng.

3. Phương thức lan truyền

Vi khuẩn gây bệnh tồn tại trên tàn dư lá, quả, thân, cành cây đã bị bệnh. Vi khuẩn lan truyên nhờ tác nhân cơ giới, gió, nước mưa. Do đó, bệnh thường gây hại nặng trong điều kiện thời tiết ẩm, mùa mưa.

4. Đặc điểm phát sinh

Bệnh loét phát sinh gây hại quanh năm, nhưng bệnh trong mùa mưa nặng hơn trong mùa khô. Bệnh phát sinh và phát triển mạnh ở điều kiện ẩm độ cao và nhiệt độ 26 – 35 độ C. Bệnh loét lây lan rất nhanh. Bệnh hại trên tất cả các giống cây có múi. Chanh, bưởi chùm bị nặng nhất. Các giống cam Xã Đoài, cam Vân Du, cam Sông Con bị bệnh nặng hơn các giống cam chanh, cam sành.

Bệnh phát sinh từ lộc xuân (tháng 3), tăng mạnh đến lộc hạ (tháng 7 và 8) rồi đến lộc đông (tháng 10 và 11) thì bệnh giảm dần và ngừng phát triển. Tuổi cây càng non càng dễ bị nhiễm bệnh nặng, nhất là ở vườn ươm ghép cây giống thường bị bệnh nặng trong 1 – 2 năm đầu, cam từ 5 – 6 tuổi tỉ lệ bị bệnh thấp hơn. Cành vượt phát triển nhiều lộc thường bị bệnh nặng hơn, sau khi nảy lộc 30 – 45 ngày ở giống cam rất dễ bị bệnh.

Khi lộc cành bước vào ổn định nhưng chưa hóa già tính nhiễm bệnh cao nhất. Sau khi hoa rụng, quả non hình thành bắt đầu bị nhiễm bệnh. Khi quả ngừng lớn và bắt đầu vàng thì hầu như không nhiễm bệnh nữa. Ngoài ra, sâu bùa vẽ cũng là môi giới truyền bệnh tạo nên vết thương để bệnh xâm nhiễm dễ dàng, nhất là trong vườn ươm cây giống.

5. Biện pháp phòng trừ

– Vườn trồng cây ăn quả cần có hệ thống thoát nước tốt, không trồng cây giống bị nhiễm bệnh và không trồng quá dày để tạo thông thoáng cho vườn. Cắt và thu gom cành, lá, quả bị bệnh đem tiêu hủy nguồn bệnh. Những vườn bị bệnh không tưới nước lên tán cây vào buổi chiều mát, không tưới thừa nước. Đốn tỉa tạo tán định kỳ để vườn không bị rậm rạp. Tránh tạo vết thương cơ giới cho vi khuẩn xâm nhập.

Bón phân cân đối NPK. Tăng cường bón thêm phân kali cho vườn cây đang bị bệnh, không bón đạm và phân bón lá khi bệnh đang phát triển gây hại.

– Phòng chống sâu vẽ bùa bằng dầu khoáng SK Enspray 99EC và thuốc hóa học.

– Phun phòng vào lúc mới ra lộc hoặc khi bệnh bắt đầu xuất hiện. Khi bệnh nặng có thể phun 2 – 4 lần, mỗi lần cách nhau 10 – 15 ngày. Sử dụng các loại thuốc gốc đồng như Boocđô 1%, Boocđô + zineb hoặc các loại thuốc có hoạt chất Kasugamycin + copper oxychloride (ví dụ: Kasuran 0,15%, …), Copper hydroxide (ví dụ: champion 37,5SC,…),  Copper oxychloride… phun khi cây mới ra lộc, lượng nước phun là 600 – 800 lít/ha.

Nguồn: Sưu tầm.

 

KỸ THUẬT TRỒNG BƯỞI DA XANH

KỸ THUẬT TRỒNG BƯỞI DA XANH


Hiện nay, bưởi da xanh là loại đặc sản rất được ưa chuộng bởi chất lượng độc đáo: vị thanh, không hạt, nước vừa phải, múi màu hồng, dễ lột,… chúng tôi xin giới thiệu đến bà con kỹ thuật trồng giống bưởi này.

1. Giống trồng
Nên chọn một loại giống duy nhất là bưởi da xanh, không trồng xen với các loại cây có múi khác để tránh thụ phấn chéo. Nên trồng bưởi chiết, vì rễ ăn ngang tránh gặp tấng đất phèn; mau ra trái, bảo đảm chất lượng giống hệt cây mẹ. Cây bưởi chiết có tuổi thọ khá cao.

2. Thời vụ trồng
Bưởi Da xanh trồng được quanh năm nhưng nên trồng vào đầu mùa mưa để tiết kiệm công tưới, thời điểm thích hợp nhất vào tháng 5–6 dương lịch hàng năm. Cũng có thể trồng vào cuối mùa mưa nếu có đủ điều kiện tưới trong mùa nắng.

3. Mật độ trồng
Khoảng cách trồng trung bình có thể là 4-5m x 5-6m (tương đương mật độ trồng khoảng 35-50 cây/1000m2).

4. Chuẩn bị mô trồng và cách trồng
Đất làm mô thường là đất mặt ruộng hoặc đất bãi bồi ven sông phơi khô. Mặt mô nên cao 40-60cm, đường kính 80-100cm. Đắp mô trước khi trồng 2-4 tuần, trộn đều đất đắp mô với 10 kg phân hữu cơ hoai với 200g vôi. Khi trồng, đào lỗ ở giữa mô và bón vào đáy lỗ 200g phân DAP (18%N-46%P205), phủ lên trên một lớp đất mỏng. Dùng dao cắt đáy bầu và đặt cây xuống giữa lỗ làm thế nào để mặt bầu cây nhô cao khoảng 3cm so với mặt mô, sau đó lấp đất xung quanh bầu cây ém nhẹ, kéo bao nylon từ từ lên và lấp đất lại ngang mặt bầu, tưới nước. Khi đặt cây phải xoay mắt ghép hướng về chiều gió để tránh cây bị tách chồi. Sau khi trồng cần cắm cọc giữ chặt cây con. Đối với cây chiết nên đặt cây nằm nghiêng một góc khoảng 45o để cây dễ phát triển cành và tán về sau.

5. Tưới nước
Bưởi cần tưới nước đầy đủ nhất là giai đoạn cây con và ra hoa đậu trái. Mùa nắng nên thường xuyên tưới nước cho bưởi. Vào mùa mưa, cần tiêu nước vào các tháng mưa nhiều, tránh ngập úng kéo dài cây có thể chết.

6. Tỉa cành
Hàng năm, sau khi thu hoạch cần phải loại bỏ những cành đã mang trái (thường rất ngắn khoảng 10- 15cm), cành sâu bệnh, cành ốm yếu, cành nằm bên trong tán không có khả năng mang trái, các cành đang chéo nhau, đồng thời cũng cần loại bỏ các cành vượt trong thời kỳ đang mang trái nhầm han chế việc cạnh tranh dinh dưỡng và sâu bệnh cho cây. Chú ý: trong quá trình cắt cần phải khử trùng dụng cụ cắt.

7. Tạo tán
Từ vị trí mắt ghép trở lên khoảng 50- 80cm thì bấm bỏ ngọn. Chọn 3 mầm khỏe, thẳng mọc từ thân chính và phát triển theo 3 hướng tương đối đồng đều là cành cấp 1, dùng cọc tre cấm xuống đất để giữ cành cấp 1 tạo với thân chính 1 góc 35 – 40°. Từ cành cấp 1 sẽ mọc ra cành cấp 2 và chỉ giữ lại 2- 3 cành cấp 2. Cành cấp 2 phải để cách thân chính 15- 30cm và cành này cách cành kia 20- 25cm, cùng với cành cấp 1 tạo thành một gốc 30- 35°. Từ cành cấp 2 sẽ hình thành những cành cấp 3, cành này không hạn chế về số lượng và chiều dài, nhưng cần loại bỏ những các cành mọc quá dày hoặc quá yếu. Sau 2 năm cây sẽ có bộ tán cân đối.
Quét vôi quanh gốc cây định kỳ 1-2 tháng/lần, đoạn sát mặt đất cao 80-100 cm, lớp vôi bám vào vỏ cây ngăn không cho sâu đục thân trưởng thành, do một loại xén tóc đến đẻ trứng vào lớp vỏ của gốc cây. Buổi tối 19-21 giờ thắp bóng điện sáng ở giữa vườn, xén tóc có tính hướng quang sẽ bay đến, dùng vợt bắt đem giết hạn chế trứng đẻ.

8. Bón phân
Trên cơ sở phân tích chất đất mà có chế độ bón phân thích hợp. Sử dụng phân hữu cơ kết hợp vô cơ, bón gốc kết hợp bón lá theo từng giai đoạn phát triển của cây bưởi.
Phân hữu cơ: Xu hướng canh tác tiên tiến hiện nay là sử dụng càng nhiều phân hữu cơ càng tốt khi sản xuất trái cây theo hướng sạch. Liều lượng 15-30 kg/năm/cây trưởng thành rất tốt cho bưởi, giúp tăng tuổi thọ rất rõ cho cây. Cách ủ phân hữu cơ đơn giản: Không nên bón xác bã hữu cơ tươi vào đất mà nên ủ cho hoai mục trước khi bón. Các nguyên liệu hữu cơ được gom lại, có thể trộn với vôi để xử lý một số mầm bệnh trong đống ủ. Để gia tăng tiến trình nầy, trên thị trường đã có các loại phân phân hủy, có thể trộn thêm Lân và phân Đạm làm thức ăn cho vi sinh vật. Có thể ủ với Nấm đối kháng sau 6-8 tuần. Sử dụng phân này bón cho bưởi rất tốt.
– Phân vô cơ: thường sử dụng là DAP rải xa gốc hoặc NPK phun lên lá.
Đạm (N) giúp cây bưởi phát triển nhanh, đâm chồi, thiếu đạm cây bưởi còi cọc, ốm yếu, đạm phù hợp cây bưởi trong giai đoạn tăng trưởng.
Lân (P) kích thích nẩy chồi, đẻ nhánh, thúc đẩy bưởi ra hoa, đậu trái; lân còn giúp cây bưởi chống bị nhiễm bệnh.
Kali (K) giúp cây bưởi cứng cáp, trái không bị rụng non.

9. Kỹ thuật bón phân
Tùy theo giai đoạn sinh trưởng và phát triển của bưởi, việc bón phân có thể được chia ra các thời kỳ như sau :
– Thời kỳ cây 1-3 năm tuổi: Phân bón được chia làm nhiều đợt để bón cho bưởi. Nếu đã có bón lót phân lân hoặc DAP thì dùng phân Urea với liều lượng 10-20g hòa tan trong 10 lít nước để tưới cho một gốc bưởi (1-2 tháng/lần). Khi  cây trên 1 năm tuổi, bón trực tiếp phân vào gốc.
– Thời kỳ cây bưởi đã cho trái ổn định: Có thể chia làm 5 lần bón như sau :
+ Sau thu hoạch:  bón 25% đạm + 25% lân + 10-30 kg hữu cơ/gốc/năm.
+ Bốn tuần trước khi cây ra hoa: bón 25% đạm + 50% lân + 25% kali.
+ Sau khi đậu quả: bón 25% đạm + 25% lân + 25% kali.
+ Giai đoạn quả phát triển: bón 25% đạm + 25% kali.
+ Một tháng trước thu hoạch: bón 25% kali.
Nên bón bổ sung từ 0,5-1kg phân Ca(NO3)2/cây/năm vào các giai đoạn sau thu họach, trước khi trổ hoa và sau đậu trái. Có thể phun phân bón lá tối đa không quá 3 lần/vụ trái, mỗi lần cách nhau ít nhất 30 ngày. Không phun phân bón lá vào mùa mưa vì làm cây dễ nhiễm nấm bệnh như Loét, Mốc hồng, Đốm rong.

10. Phòng trừ sâu bệnh
Để phòng trừ các loại sâu, côn trùng chích hút, bệnh,….nên thường xuyên thay đổi các loại thuốc bảo vệ thực vật. Chú ý sâu vẽ bùa làm suy cây, hư ngọn, nên phòng trừ bằng cách xịt confidor và chất bám dính (có thể kết hợp NPK 16.16.8).

11. Kích thích ra hoa, đậu trái
Bưởi da xanh ra hoa, trái quanh năm; do đó để có nhiều sản phẩm đưa ra thị trường vào thời điểm giá cả có lợi cho người sản xuất, nên kích thích ra hoa, đậu trái từ 7 đến 8 tháng trước ngày thu hoạch, nhưng nếu lưu trái nhiều quá sẽ làm suy cây.

12. Bao trái
Quả bưởi cũng cần phải bao sớm. Khi quả bưởi to bằng quả trứng vịt (đường kính 2,2-2,5cm) dùng túi nilon có đường kính 20-40cm, dài 30-60cm, thủng hai đầu để bao quả có trọng lượng khi chín 0,7-4kg.
Dùng túi nylon bao chùm trái từ phần cuống theo hướng thẳng xuống, dùng dây buộc giữ túi vừa chặt. Túi nylon cắt bỏ hoàn toàn phần đáy vừa giữ được sự thông thoáng, vừa ngăn các loại côn trùng, sâu và ruồi đục trái tấn công.
Khi quả được bao bằng túi nilon màu trắng trong, chất diệp lục ở vỏ quả vẫn hấp thu được ánh sáng và quang hợp bình thường như những quả để tự nhiên, do vậy màu sắc của quả không thay đổi từ khi nhỏ tới chín, đảm bảo màu sắc hấp dẫn tự nhiên.
Đa số các loại côn trùng trưởng thành là bướm (ngài) đều bay theo phương ngang thẳng, khi đậu vào quả được bao bởi giấy nilon để tiến hành đẻ trứng gặp bề mặt giấy nilon trơn, nhẵn nên bướm và trứng không bám được, do vậy hầu hết các loại sâu như: Bọ xít, xén tóc, bọ cánh cứng, ruồi đục quả, bọ rầy… được loại trừ khả năng gây hại.
Quả trong túi nilon phát triển bình thường ít bị sâu, bệnh phá hại có màu sắc đẹp, hấp dẫn, năng suất, chất lượng quả được cải thiện rõ rệt.

13. Thu hoạch
Nên thu hoạch khi bưởi vừa chín tới, da căng láng, cắt luôn cả cuốn trái. Không hái trái khi chưa chín tới hoặc hái quá trễ, chất lượng không tốt.

Nguồn: Sưu tầm.