KĨ THUẬT TRỒNG CÂY HÀNH LÁ

– Quy cách: 1g/gói

– Thu hoạch: Sau 65 – 70 ngày gieo

– Tỷ lệ nảy mầm: >75% 

Hành là cây thân thảo, có căn hành (gọi là củ) và 5 – 6 lá. Lá hình trụ rỗng, dài 30 – 50 cm, màu xanh bóng láng, gốc lá phình to, phía trên thuôn nhọn. 

Hành ưa nhiệt độ tương đối mát, khoảng 20 – 25oC. Bộ rễ phát triển nhưng ăn nông, khả năng chịu hạn và chịu úng kém. 

Dụng cụ và vật liệu trồng: 

Sử dụng chậu nhỏ; sắp xếp bố trí thẩm mỹ không gian trồng, cần ánh nắng tương đối. 

Đất trồng rau: là giá thể được phối trộn từ xơ dừa, đất mùn đã qua xử lý hoặc mua đất trồng rau đã xử lý loại trừ mầm sâu bệnh.

Đổ đất dày khoảng 8 cm, tưới phun sương cho ướt ẩm giá thể đạt khoảng 80%.

Hạt giống: sử dụng các loại hạt hành của nơi sản xuất có thương hiệu, uy tín nhằm đảm bảo chất lượng hạt giống nảy mầm tốt nhất.

Bổ sung phân hữu cơ đã được ủ hoai vào đất sạch đã chuẩn bị.

Chế độ tưới nước: sử dụng vòi tưới dạng phun mưa nhằm hạn chế lượng nước vừa đủ, tránh tình trạng giá thể khi tưới bị văng ra ngoài, dư nước gây ngập úng cây rau. 

Chuẩn bị hạt giống và cách ngâm ủ: 

Hạt ngâm trong nước ấm: 2 sôi + 3 lạnh (hoặc nhiệt độ nước ngâm vào khoảng 50oC). Thời gian ngâm khoảng 3-6h tùy theo độ dạy của hạt.

Cách ủ: hết thời gian ngâm, hạt đem rửa sạch với nước. Dùng khăn vải để ủ, thời gian ủ khoảng 12-24h/đêm) tùy độ dày của hạt.

Mục đích của việc ngâm ủ: Rút ngắn thời gian sinh trưởng, loại bỏ hạt lép, hạt hỏng, tạp chất; tỉ lệ hạt giống nảy mầm đồng đều hơn.

Quá trình ươm cây con trước khi đem cấy: đối với hạt giống gieo thành cây con trước khi cấy vào chậu.

Đất ủ hạt: Cho 1 lượng đất sạch vào chậu dày khoảng 3cm tạo bề mặt bằng phẳng và tưới phun sương cho ẩm đều mặt giá thể.

Gieo hạt: vãi đều hạt giống đã ngâm ủ lên mặt giá thể với mật độ thưa, sao cho thuận tiện khi nhổ, bứng cây con ra trồng vẫn đảm bảo cây con có đất ở gốc. Và cho phủ một lớp đất mỏng lên bề mặt hạt giống.

Nước tưới: phun sương vừa đủ ẩm cho khay vừa gieo 2 lần/ngày (sáng, chiều).

Vị trí đặt khay ươm: Chọn nơi có ánh sáng tốt, nhằm để cây con thích ứng với môi trường trước khi đem cấy tỉa. Thời gian ươm cây con từ 14 – 20 ngày, chờ cây phát triển từ 2 – 4 lá mầm để cấy tỉa là thích hợp nhất. 

Kỹ thuật trồng và chăm sóc: 

Cây con: Khi gieo cây con lên 2 lá non, đem tỉa thưa để cấy. Mỗi chậu trồng cần cấy khoảng 2 cây. Sau khi cấy ta đem chậu vào trong mát khoảng 1 -2 ngày rồi mới đem ra ánh sáng.

Nước tưới: Dùng nước sạch không bị ô nhiễm, sử dụng hệ thống phun mưa để tưới hoặc vòi phun mưa và tưới 2 lần/ngày (sáng, chiều). Tưới với lượng nước vừa đủ.

Thời gian thu hoạch: thời gian thu hoạch khoảng 30-40 ngày sau khi cấy.

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

QUY TRÌNH KĨ THUẬT TRỒNG HÀNH LÁ

Giống 

Hiện nay có 2 giống hành phổ biến: Giống hành gốc tím (hành sậy) và gốc trắng (hành hương). Hành gốc tím nông dân thích trồng hơn vì năng suất cao, ít sâu bệnh và ít đổ gãy lá hơn. Hành hương cọng và gốc nhỏ nhưng rất thơm.

Làm đất 

Liếp trồng hành có thể rộng 1,2- 1,4 m, cao khoảng 20 – 40 cm, đất phải được làm tơi nhỏ, sạch cỏ dại. Mùa nắng liếp trồng có thể thấp khoảng 20-25 cm là đạt yêu cầu.

Mật độ và khoảng cách 

Lượng giống cần cho 1000 m2 là: 300-400 kg (mùa mưa) và 400-500 kg (mùa nắng)

Khoảng cách hàng cách hàng: 20-30 cm. Khoảng cách cây cách cây: 20-25 cm. Mỗi hốc, 2 tép hành.

Rãnh giữa 2 liếp rộng: 20-30 cm.

Khoảng cách trồng còn tuỳ thuộc vào mùa vụ. Mùa nắng có thể trồng dày hơn mùa mưa.

Trồng cây 

Trồng bằng hạt giống hoặc cây gốc, chọn cây già, gốc to, không quá non mềm, lá cứng, có phấn trắng. Hành khi mua giống về đem trồng ngay, một liếp có thể cấy 4-5 hàng tùy theo độ rộng của mặt liếp. Cần phải rãi một lớp rơm mỏng lên mặt liếp trước khi trồng nhằm giữ ấm cho cây sau khi trồng, đặt biệt là mùa mưa. Nếu để giúp cây phát triển nhanh hơn thì dùng chày có đầu nhọn dọng lỗ với độ sâu 2-3cm rồi cấy hành lên.

Phân bón 

Lượng phân cần bón cho cây tùy thuộc vào nhu cầu của cây, độ phì nhiêu của đất (tính cho 1.000 m2). Có thể tham khảo công thức phân bón như sau:

Bón lót (trước khi trồng): Tro trấu (đã ủ hoai): 200-300 kg, 10 kg DAP (hoặc 20 kg Super lân), 15 kg phân hữu cơ Parker Neem Soil.

Bón thúc: Có thể pha phân vào nước tưới

Đợt 1 (8 ngày sau khi trồng): 5kg DAP + 1 kg phân hữu cơ Parker Neem Soil

Đợt 2 (16 ngày sau khi trồng): 10kg DAP + 2 kg phân hữu cơ Parker Neem Soil

Đợt 3 (23 ngày sau khi trồng): 15kg DAP + 2 kg phân hữu cơ Parker Neem Soil

Lưu ý: Nên ngưng tưới và phun phân bón trước thu hoạch ít nhất 7- 10 ngày.

Chăm sóc 

Làm cỏ: Làm cỏ bằng tay để tránh sự cạnh tranh dinh dưỡng của cỏ với hành.

Tưới nước: Cây hành rất cần nước trong quá trình sinh trưởng cung cấp đủ nước cho cây 1 – 2 lần/ngày.

Sâu bệnh 

Trồng hành rất sợ bệnh thán thư, vàng lá, vàng đầu lá, tóp và héo đỉnh sinh trưởng: Do đó có thể hạn chế bệnh này cần xử lý giống trước khi trồng bằng thuốc Novaba, Sumi eight, Interest, Zimvil…

Sâu xanh, dòi đục lá có thể sử dụng AnB40, Vua Sâu Rệp, Thần Địch Trùng rãi vào gốc hoặc phun theo liều hướng dẫn.

Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp:

– Biện pháp canh tác: 

Luân canh với cây trồng khác họ để cắt đứt cầu nối sâu bệnh giữa các vụ. Chọn giống sạch, nếu cần thiết nên nhúng lá hành giống vào dung dịch thuốc trừ bệnh Novaba để xử lý giống.

Mùa nắng trồng dày, mùa mưa trồng thưa 10- 15 cm. Bón phân cân đối giữa đạm, lân, kali. Nên bón thêm phân chuồng hoai vào lần bón lót hoặc phân hữu cơ vi sinh. Hạn chế việc tưới Urê định kỳ bằng cách phun phân bón lá, phân bón sinh học.

Vệ sinh đồng ruộng: Làm sạch cỏ, tưới đầy đủ nước, tỉa bỏ lá già, lá bị sâu bệnh.

– Biện pháp vật lý- cơ học: 

Làm đất phơi ải, xử lý vôi 100-200Kg/1công, tiêu diệt mầm móng sâu bệnh.

Lên liếp cao, thoát nước tốt, phủ rơm sạch để tránh mầm bệnh lây lan.

– Biện pháp sinh học: 

Hạn sử dụng thuốc trừ sâu để bảo tồn thiên địch, nhất là ong ký sinh, cóc, ếch, nhái . . .

Sử dụng các chế phẩm sinh học như Exin trừ dòi đục lá hành và thuốc điều hòa sinh trưởng như: delfin trừ sâu xanh da láng.

Thu hoạch 

Hành trồng được 45-60 ngày là có thể thu hoạch. Nhưng có thể thu hoạch sớm hơn hoặc muộn hơn tùy theo thị trường và giá cả. Một công hành (1.000m2) có thể thu hoạch 4 tấn (mùa thuận – mùa nắng) và đạt 2 tấn (mùa nghịch). Ngưng phun thuốc bảo vệ thực vật trước khi thu hoạch 20 ngày.

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

ỚT BỊ HÉO VÀNG – “ÁN TỬ” LẶNG LẼ TRONG VƯỜN ỚT

Bệnh héo vàng trên ớt xuất phát từ một loại nấm hại có phổ ký chủ rộng tên thuộc họ Fusarium. Bệnh xuất hiện phổ biến trên và thường bội nhiễm cũng nhiều tác nhân khác gây khó khăn cho quá trình chẩn đoán và điều trị.

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH HÉO VÀNG TRÊN CÂY ỚT ?

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH HÉO VÀNG TRÊN CÂY ỚT ?
NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH HÉO VÀNG TRÊN CÂY ỚT ?

Nấm bệnh tồn tại chủ yếu trong đất và có thể lưu tồn trong đất qua nhiều năm. Ngoài ra, bào tử nấm còn có ở trong các tàn dư thực vật, lây lan qua nước và các hoạt động canh tác của con người. Khi gặp điều kiện thích hợp các bào tử nấm đâm chồi và xâm nhập gây hại cho cây trồng. Nhiệt độ từ 25 – 30oC, độ ẩm cao, mưa nhiều sẽ làm cho nấm bệnh phát triển mạnh, lây lan nhanh.

Đặc biệt trên các ruộng vườn bị nhiễm bệnh ở vụ trước thì khả năng và mức độ gây hại của bệnh tăng cao.

BIỂU HIỆN CỦA BỆNH HÉO VÀNG GÂY HẠI TRÊN CÂY ỚT ?

BIỂU HIỆN CỦA BỆNH HÉO VÀNG GÂY HẠI TRÊN CÂY ỚT ?
BIỂU HIỆN CỦA BỆNH HÉO VÀNG GÂY HẠI TRÊN CÂY ỚT ?

Bệnh xâm nhiễm và gây hại chủ yếu ở thời kỳ cây con đến khi cây ra hoa, nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng nhất là vào thời kỳ thu hoạch ớt.

Các biểu hiện bệnh trên cây xảy ra như sau:

Bệnh xảy ra trên các lá già ở phía dưới trước sau đó lan dần lên các lá phía trên. Triệu chứng bệnh có thể xuất hiện ở vài nhánh hoặc toàn bộ cây. Các lá cây chuyển vàng, héo dần, sau đó chết đi. Quan sát phần cổ rễ sẽ các các vết nấm hình thành từng mảng, các mạch tế bào bên trong thân khi cắt ngang sẽ thấy hiện tượng hóa nâu.

Bệnh này thường dễ gây nhầm lẫn với bệnh héo xanh vi khuẩn. Nhưng bệnh héo xanh vi khuẩn các vết bệnh thường mềm ướt, cách dễ nhận biết nhất là cắt ngang thân cây nhúng vào nước nếu thấy các giọt dịch trắng chảy xuống thì đó là bệnh héo xanh do vi khuẩn.

HẬU QUẢ CỦA BỆNH HÉO VÀNG GÂY HẠI TRÊN CÂY ỚT ?

Nấm bệnh xâm nhập khiến cho các bó mạch của rễ và thân bị ảnh hưởng làm cản trở quá trình vận chuyển nước và dưỡng chất nuôi cây. Hiện tượng lá vàng dần rồi rụng hàng loạt làm cho cây trơ trụi, còi cọc, khả năng ra hoa đậu trái sụt giảm.

Bộ rễ bị tổn thương không phát sinh rễ tơ, rễ cọc bị thối làm cây ớt bị héo úa rồi sau đó chết đi gây thiệt hại đến kinh tế người nhà vườn.

BÀ CON SỬ DỤNG HOBYO 200WP ĐỂ TRỊ BỆNH HÉO VÀNG GÂY HẠI TRÊN CÂY ỚT

HOBYO 200WP – THUỐC TRỪ BỆNH XOĂN LÁ, HOA DỊ DẠNG, KHẢM LÁ

THÀNH PHẦN HOBYO 200WP

Moroxydine Hydrochloride: 16%

Copper Axcetate: 4%

Phụ gia vừa đủ 1kg

CÔNG DỤNG HOBYO 200WP

HOBYO 200WP
HOBYO 200WP
HOBYO 200WP là thuốc trừ bệnh hữu cơ có công thức độc đáo đầu tiên ở Việt Nam được công nhận là THUỐC TRỪ VIRUS.

Là cuộc cách mạng nhảy vọt về khoa học kỹ thuật bảo vệ cây trồng.

Chính thức khai sinh phương pháp điều trị Virus thực vật một cách chủ động.

Hoạt chất Moroxydine hydrochloride đã được sử dụng cho người để điều trị Virus gây bệnh đường hô hấp và Virus gây tổn thương niêm mạc.

Moroxydine hydro-chloride có phổ rộng với cả Virus AND và Virus ARN.

Nhiều dẫn xuất của Mo-roxydine Hydrochloride đang là biệt dược để điều trị Virus viêm gan B và C.
Chúng tôi đã thành công trong việc chế tác Moroxydine hydrochloride để sử dụng cho thực vật

Hoạt chất Copper acetate gắn kết với axit amin tạo thành phức hợp bền vững .

Có tác dụng ngăn chặn sự xâm nhập của Virus vào tế bào khỏe mạnh (chống lây lan) và chống sao chép (sinh sản) của Virus.

Sự kết hợp hoàn hảo của 2 hoạt chất về tính năng và khả năng hiệp đồng mạnh mẽ đã tạo ra HOBYO 200WP .

Có tác dụng phòng vệ vừa có tác dụng tiêu diệt Virus.

HOBYO 200WP được đăng ký trừ Virus trên cây thuốc lá.

LỜI KẾT:

Bệnh héo vàng trên ớt cực kỳ nguy hiểm – không trị sớm là lan nhanh, chết cả vườn. Muốn vườn ớt khỏe mạnh, cần xử lý đất kỹ từ đầu, kết hợp phòng bệnh định kỳ và chăm cây đúng cách.

Bà con còn thắc mắc gì vui lòng liên hệ về hotline 0984.535.820 để được đội ngũ kỹ sư tư vấn miễn phí hoặc liên hệ Website vietnamnongnghiepsach.com.vn. Chúc quý bà con có một vụ mùa bội thu !F

CÁC PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH HÉO VÀNG TRÊN CÂY ỚT

Tác nhân: Do nấm Fusarium oxysporum  

Tên tiếng Anh: Fusarium wilt

Triệu chứng gây hại:

– Bệnh thường gây hại giai đoạn cây con đến ra hoa, quả. 

– Triệu chứng điển hình là lá biến vàng và héo dần từ lá dưới gốc lên lá trên ngọn, cây sinh trưởng kém, cuối cùng toàn cây bị héo và chết.

– Gốc và rễ cây bệnh có vết nâu rồi khô dần, bó mạch trong thân cây hóa nâu. Phần gốc gần mặt đất teo tóp nhỏ lại và đôi khi có lớp tơ mỏng màu trắng bao phủ.

– Lá cây chết có màu vàng và khô. Thời gian từ khi cây có biểu hiện bệnh đến khi cây chết kéo dài hàng tháng.

Phát sinh gây hại:

– Nhiệt độ cao (25 – 300C), ẩm độ cao thích hợp cho nấm phát triển. Bệnh phát thường gây hại nặng trong mùa mưa.

– Bào tử nấm lưu tồn lâu trong đất, tàn dư bị bệnh, lây lan qua nước, đất do động vật hoặc con người mang đi, giống cây nhiễm bệnh (củ giống, cây giống…).

– Bệnh thường gây hại nặng ở những ruộng nhiễm bệnh vụ trước. Bệnh gây hại trên nhiều loại cây trồng như cà chua, ớt, đậu, gừng, dưa, khoai tây, bầu bí…

Biện pháp phòng trừ:

– Vệ sinh đồng ruộng, thu gom, tiêu hủy tàn dư cây bệnh.

– Chọn giống sạch bệnh từ ruộng không bị bệnh để trồng.

– Lên luống cao, có rãnh thoát nước tốt.

– Bón phân cân đối; bón vôi, phân hữu cơ  trước khi trồng.

– Tránh gây vết thương rễ cây.

– Nhổ bỏ cây bị bệnh, xử lý đất bằng vôi, hạn chế tưới nước để tránh lây lan.

– Luân canh với cây trồng khác không bị bệnh.

– Phun thuốc lên cây và tưới vào gốc để ngừa khi bệnh  mới xuất hiện (xử lý 2-3 lần cách nhau 7 ngày).

Bonny 4SL

25 ml/10 lít nước

Ridozeb 72WP

50 g/10 lít nước

Manozeb 80WP

50 g/10 lít nước

Carbenda supper 50SC

20 ml/ 10 lít nước

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

CÁCH PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH TRÊN CÂY RAU MUỐNG

CÁCH PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH RỈ TRẮNG TRÊN CÂY RAU MUỐNG


Rau muống là loại rau được yêu thích hàng đầu trong các loại rau trong vườn nhà, với giá trị dinh dưỡng cao và cách trồng đơn giản rau muống xuất hiện trong hầu hết các bữa ăn trong gia đình. Rau muống không chỉ là thức ăn cho người mà còn là “thức ăn khoái khẩu” của rất nhiều loại sâu bệnh hại, hãy cùng tìm hiểu một số căn bệnh thường gặp ở rau muống và cách phòng trừ bệnh nhé.

Rau muống được chia làm rau muống cạn và rau muống nước, tùy vào  cách canh tác (trồng trên đất, hay trồng trên nước – thủy canh) mà có cách gọi như vậy. Rau muống thường gặp một số bệnh như: Bệnh gỉ trắng, ốc bươu vàng phá hoại, Sâu khoang, sâu xanh, sâu ba ba hay bọ rùa kim tuyến, rầy xám,…

Sau đây, mình xin trình bày cách phòng và trị bệnh gỉ trắng hại lá rau muống.

Tác nhân gây bệnh: do nấm Albugo sp. gây ra

Môi trường phát sinh bệnh:

Bệnh gỉ trắng thường xuất hiện tại khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới nơi có nhiệt độ và độ ẩm cao, bệnh gỉ trắng thường hại lá các cây ăn lá có lá mềm như cây rau muống.

bệnh rỉ sắt trên cây rau muống

  • Triệu chứng:

    • Vết bệnh đầu tiên là một đốm nhỏ tròn màu trắng, sau đó lớn dần và nhô cao lên ở mặt dưới lá, nhiều vết bệnh có thể liên kết lại với nhau làm lá rau muống sần sùi, biến dạng.

    • Lá, cuống lá bị tấn công đầu tiên sau đó là thân cây làm lá vàng úa, rụng sớm, cây rau muống bị sượng, cứng, phát triển kém.

    • Xuất hiện những điểm vàng cả 2 bên mặt lá, sau một thời gian các điểm vàng này chết được bao quanh bởi một quầng vàng, những đám này lồi lên giống mụn trên mặt lá.

    • Cuống lá và thân cây phình ra và xoắn lại.

    • Cây không chết, nhưng phát triển còi cọc ảnh hưởng tới năng xuất.

    • Bệnh do nấm hại gây ra được phát tán nhờ gió và sinh vật.

  • Cách phòng trừ bệnh gỉ trắng trên rau muống.

    • Sử dụng một số thuốc và chế phẩm sinh học như sau: Hạt vàng Thio-M; Score 250 EC; Dithane 80WP; Zoom 50SC; Ridomil MZ 72WP… để diệt và phòng trừ.

    • Hòa thuốc với nước theo hướng dẫn ghi trên bao bì, cần mặc đồ bảo hộ an toàn trước khi phun thuốc cho cây rau muống.

    • Nếu bạn trồng rau trong vườn nhà mà không muốn sử dụng thuốc, hãy nhỏ bỏ ngay cây bị bệnh có thể phun chế phẩm sinh học như Exin 4.5 để diệt nấm.

  • Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

https://youtu.be/252crA5cXYQ

 

KĨ THUẬT CHĂM SÓC DƯA HẤU VÀO MÙA MƯA

KĨ THUẬT CHĂM SÓC DƯA HẤU VÀO MÙA MƯA


Trước đây, dưa hấu không chỉ trồng được trong mùa nắng, nhưng bây giờ trong mùa mưa nếu trồng đúng kỹ thuật vẫn cho năng suất cao và chất lượng ngon không thua gì dưa mùa nắng. Để đạt được kết quả tốt cần quan tâm những vấn đề sau:

1. Chọn giống:

Giống là một yếu tố rất quan trọng đưa đến thành công khi trồng trong mùa mưa, cho nên cần chọn những giống có đặc tính tốt, thích hợp mùa mưa.

– Chống chịu bệnh trong mùa mưa.

– Lá tương đối dày, lá càng đứng càng tốt để tránh mưa làm rách lá dễ bị nhiễm bệnh.

– Dễ đậu trái, vỏ trái mỏng vừa vận chuyển đi xa tốt.

– Ruột giòn, độ đường từ 12 – 14%.

2. Những biện pháp canh tác cần quan tâm:

Ruộng trồng phải thoát nước tốt không bị ngập khi mưa nhiều.

Nên dùng màng phủ nông nghiệp để:

– Hạn chế cỏ dại, bệnh dại.

– Điều hòa độ ẩm mặt đất, tăng nhiệt độ đất cho bộ rễ phát triển tốt.

– Giữ phân bón không bị rửa trôi và bốc hơi phân.

– Hạn chế việc mao dẫn phèn lên lớp đất giúp rễ phát triển tốt mặt.

Nên dùng màng phủ khổ 1,6 m tránh được dây và trái tiếp xúc với đất ẩm ướt dễ nhiễm các bệnh do nấm từ đất truyền sang. Tùy theo giống dưa khoảng cách khác nhau, như dưa có hạt đào tim mương này cách tim mương kia 4 – 4,5 m (vậy hàng cách hàng 3,6 – 3,8 m, cây cách cây 0,5 – 0,6 m). Dưa không hạt cũng lên liếp giống như trên, nhưng cây cách cây 0,35 – 0,37 m để trái đạt 3 – 4 kg dễ bán và chất lượng tốt.

Nếu sử dụng màng phủ 1,6 m thì chỉ cần xẻ mương nhỏ dọc theo nơi hai mép màng phủ ngoài, để thoát nước.

Liếp nên được làm hơi dốc xuôi từ hàng dưa vào giữa liếp để thoát nước tốt, không đọng nước trên liếp.

Cắt bỏ dây bơi để liếp dưa được thoáng đầy đủ ánh nắng giúp dưa thụ phấn tốt và mầm bệnh ít phát triển.

Thụ phấn:

Dưa trong mùa mưa đậu trái rất khó do mưa làm hư phấn. Để dưa thụ phấn tốt, sau khi thụ phấn dùng lá trâm bầu hoặc loại lá khác quấn lại giống như cái quặn, dùng một que tre ghim chỗ hai mí lá chồng nhau, xong cắm một đầu que tre xuống đất sao cho quặn lá úp che nụ cái vừa mới được thụ phấn để che mưa không làm hư phấn giúp trái đậu tốt.

Cũng có thể vào khoảng 4 – 5 giờ chiều hái những hoa đực vừa chớm nở có thể nở trong ngày mai, dùng khăn nhúng nước và vắt thật khô, trải hoa trên khăn xong dùng khăn khác cũng nhúng nước vắt khô đậy lên, nên giữ khăn ủ ở nhiệt độ từ 25 – 28oC là tốt nhất để hạt phấn sống tốt, sáng hôm sau đem ra thụ phấn.

Tránh để trái dưa bị ngập nước, dưa sẽ dễ bị thúi trái.

Phân bón sử dụng cân đối, nên bón NPK 16-16-8, không nên sử dụng nhiều phân urê và phân bón lá, sẽ làm ruột dưa úng nước, bầm kém phẩm chất.

Rút nước cạn trong mương để đất không bị úng rễ và dây dưa phát triển tốt, nhất là sau khi để trái và giai đoạn dưa chín.

An Giang có diện tích trồng dưa hấu khá lớn, tuy nhiên phần lớn dùng giống dưa hạt rời chất lượng không đảm bảo, như tỉ lệ nẩy mầm thấp, độ đồng đều kém, chất lượng ruốt kém, có nhiều mùa trái bị hỗ lô bán giá thấp. Do vậy bà con nông dân nên chọn giống chất lượng để đạt hiệu quả cao.

Hiện nay trên thị trường có nhiều giống dưa có thể trồng trong mùa mưa. Tuy nhiên, giống dưa Phù Đổng được nông dân ưa chuộng nhất vì có những đặc tính tốt và cũng rất thích hợp trồng trong mùa mưa.

Dưa hấu một trong những loại cây trồng đem lại cho nông dân lợi nhuận cao, tuy nhiên cần am hiểu kỹ thuật để cho năng suất cao mới có vụ mùa bội thu.

https://youtu.be/n0jV1L_RG38

https://youtu.be/xL3TfowYsS0

https://youtu.be/xL3TfowYsS0

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ TRỊ NẤM – TUYẾN TRÙNG HẠI ỚT

Một số thuốc được khuyến cáo sử dụng để diệt côn trùng chích hút như:  Brightin 1.8ec (hoạt chất Abamectin), Alfatin 1.8ec (hoạt chất Abamectin), Binhtox 1.8ec (hoạt chất Abamectin), Vinoroots (hoạt chất chitosan),…

https://www.youtube.com/watch?v=71NYiCWpaGc

BỆNH THỐI TRÁI

BỆNH THỐI TRÁI MƯỚP VÀ CÁCH PHÒNG TRỊ BỆNH


Dàn mướp đắng đang ra hoa, biểu hiện bị thối đuôi trái. Hỏi nguyên nhân và cách khắc phục?

TS Nguyễn Thị Nhung đã trả lời cho câu hỏi như sau:

Trước tiên cần chăm sóc bón phân theo đúng quy trình kỹ thuật, sau đó kiểm tra xem mướp đắng có bị giòi đục quả không thì phòng trị ngay.

Còn nếu bị thối do nấm gây hại thì cần khắc phục ngay từ lúc mới chớm bệnh, cụ thể như sau:

+ Thu gom quả bệnh nặng tiêu hủy.

+ Phòng trừ sớm khi bệnh mới xuất hiện (5-7% bị bệnh) khi đã bị nặng rồi mới xử lý thuốc thì không có tác dụng.

+ Để phòng và trừ bệnh hiệu quả cần chú ý các biện pháp sau:

– Vệ sinh vườn thông thoáng

– Bón phân cân đối hợp lí, nếu vườn hay bị bệnh không bón phân đạm vào thời kỳ quả lớn

– Đủ nước, không để bị hạn vào giai đoạn quả phát triển.

-Thuốc hoá học phòng trừ bệnh có những hoạt chất sau: METIRAM COMPLEX ( Polyram 80df,…) hoặc  DIFENOCONAZOLE (Athuoctop 480sc, amistar top 325sc,…) hoặc  AZOXYSTROBIN (Athuoctop 480sc, amistar top 325sc,…) hoặc  PROPICONAZOLE (Tilt super 300ec,…) hoặc  TEBUCONAZOLE  (Tepro super 300ec,…) là những thuốc phun trừ bệnh hiệu quả.

Sử dụng theo hướng dẫn ghi trên bao bì sản phẩm.

https://www.youtube.com/watch?v=m8AUBfBRPJY&feature=youtu.be

BỆNH TÓP ĐẦU LÁ: KẺ NGÁNG ĐƯỜNG SINH TRƯỞNG CỦA CÂY TRỒNG

Bệnh tóp đầu lá là một hiện tượng phổ biến trên nhiều loại cây trồng như lúa, ngô, mía, cây ăn trái và rau màu. Bệnh làm cho ngọn cây chậm phát triển, đầu lá bị co tóp, biến dạng hoặc cháy khô, dẫn đến cây còi cọc, năng suất giảm mạnh. Đây là dấu hiệu báo động tình trạng rối loạn sinh lý hoặc bị tấn công bởi tác nhân bệnh hại.

TÁC NHÂN GÂY BỆNH TÓP ĐẦU LÁ ?
TÁC NHÂN GÂY BỆNH TÓP ĐẦU LÁ ?

TÁC NHÂN GÂY BỆNH TÓP ĐẦU LÁ ?

Bệnh do một nấm Stemphylium botryosum W gây ra

TRIỆU CHỨNG BỆNH TÓP ĐẦU LÁ ?

TRIỆU CHỨNG BỆNH TÓP ĐẦU LÁ TRÊN HÀNH LÁ ?
TRIỆU CHỨNG BỆNH TÓP ĐẦU LÁ TRÊN HÀNH LÁ ?

Ngoài tỏi, nấm còn hại trên nhiều loại cây trồng khác như: hành, súp lơ, khoai tây, cà chua,…

Bệnh xuất hiện từ giai đoạn cây con và phá hại mạnh giai đoạn hình thành củ đến thu hoạch.

Vết bệnh thường hình thành ở giữa các lá bánh tẻ, có hình bầu dục dài, lúc đầu có màu xám trắng sau đó tâm vết bệnh chuyển thành màu nâu vàng trên nền trắng xám, sau từ 5 – 7 ngày gãy gục ở giữa và khô lụi.

Vết bệnh kéo dài dọc lá 10 – 20cm. Trời ẩm, mưa phùn bệnh phát triển mạnh và phía trên bề mặt vết bệnh có lớp nấm màu nâu đen. Bệnh nặng làm thân cây hành gãy gục ở giữa và khô lụi.

ĐIỀU KIỆN BỆNH TÓP ĐẦU LÁ ?

Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện trời âm u, nhiều sương mù, sương muối, nhiệt độ từ 22-25oC. Giai đoạn hành, tỏi hình thành củ là giai đoạn cây dễ mắc bệnh nhất.

Những ruộng hành, tỏi trồng quá dày, bón phân không cân đối, bón nhiều phân đạm, hoặc ruộng tưới nước quá ẩm bệnh phát triển nặng hơn. Các giống tỏi tía, kiệu nhiễm bệnh nhẹ hơn các giống tỏi tàu và tỏi tây. Nấm bệnh lan truyền nhờ gió.

SỬ DỤNG ALIETTE 800WG ĐỂ DIỆT SẠCH BỆNH TÓP ĐẦU LÁ TRÊN CÂY HÀNH

ALIETTE 800WG -THUỐC ĐẶC TRỊ CÁC LOẠI BỆNH CHO CÂY TRỒNG

THÀNH PHẦN ALIETTE 800WG

Fosetyl Aluminium……….800g/kg

Phụ gia ……………………………..200g/kg

CÔNG DỤNG ALIETTE 800WG

ALIETTE 800WG
ALIETTE 800WG

Với hoạt chất Fosetyl Aluminium, Aliette là thuốc trừ bệnh phổ rộng trên cây trồng ăn trái, rau màu và lúa

– Đặc trị bệnh cháy lá vi khuẩn trên lúa thông qua cơ chế kích thích lúa tiết kháng thể tiêu diệt vi khuẩn

– Đặc trị hiệu quả cao bệnh chết nhanhlở cổ rễ trên cây tiêu và các loại nấm Phytopthora gây bệnh sương mai, thối trái, xì mủ, trên các loại cây trồng ăn trái, rau màu

LỜI KẾT:

Bệnh tóp đầu lá tuy không gây chết cây ngay lập tức nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng và năng suất. Việc chủ động phòng bệnh, quản lý dinh dưỡng khoa học và kiểm soát sâu bệnh đúng cách là giải pháp tối ưu để đảm bảo vườn cây khỏe mạnh, phát triển đồng đều và cho năng suất cao.

Bà con còn thắc mắc gì vui lòng liên hệ về hotline 0971.272.030 để được đội ngũ kỹ sư tư vấn miễn phí hoặc liên hệ Website vietnamnongnghiepsach.com.vn. Chúc quý bà con có một vụ mùa bội thu !

Bệnh Thối Rễ, Ngọn và Thối Mầm Trên Cây Ớt

Các mầm bệnh: Nấm Phytophthora capsici, Nấm Pythium aphanidermatum, và các nấm Pythium spp khác.

CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU HIỆU

Úng nước chủ yếu do nấm Pythium spp gây ra. Hạt giống bị úng nước sẽ không nẩy mầm được hoặc héo cong và chết ngay sau khi nẩy mầm. Thân cây thường có một màu tối, nhăn nheo ở phần dưới lớp đất. Tình trạng úng nước thường giới hạn ở những khu vực thoát nước kém hoặc đất nén quá chặt, nhưng cả ruộng ớt có thể bị ảnh hưởng, đặc biệt là nếu cây non gặp mưa nhiều.

Bệnh thối rễ và ngọn chủ yếu do nấm Phytophthora capsici gây ra. Các triệu chứng trên những cây ớt bị nhiễm là cây bị héo và chết. Kiểm tra kỹ lưỡng rễ và các thân cây là rất cần thiết để xác nhận nguyên nhân của bệnh. Bệnh có thể phát triển ở bất cứ giai đoạn phát triển nào của ớt. Các rễ cái và những rễ nhánh nhỏ hơn bị sũng nước, bị biến màu nâu rất đậm trên bề mặt, vỏ, và các mô mạch. Rất ít rễ nhánh sống được ở những cây ớt bị bệnh và rễ cái cũng có thể bị ngắn hơn so với những cây ớt khỏe mạnh. Sự khác biệt nổi bật nhất giữa những cây ớt khỏe và cây ớt bệnh là tổng khối lượng các mô rễ. Các thân cây thường bị ảnh hưởng ở nơi tiếp giáp đất. Những thương tổn của thân cây trước tiên trở nên màu xanh lá đậm và sũng nước, sau đó là khô đi và chuyển sang màu nâu. Một điểm thương tổn có thể làm thân bị thắt lại, dẫn đến phần cây phía trên điểm thương tổn bị héo và hậu quả là cây bị chết. Trong một số điều kiện, nấm P. capsici cũng có thể làm cho lá nâu và úa trên cây ớt.

Một bệnh phát sinh từ đất khác của của cây ớt là héo do nấm Verticillium, cũng gây ra những triệu chứng trên lá tương tự như các bệnh thối rễ và ngọn; tuy nhiên, bệnh héo do nấm Verticillium không làm cho bề mặt và vỏ rễ chuyển màu nâu hay bị thối. Ngược lại, các mô gỗ của phần thân và rễ còn lại của cây ớt nhiễm nấm Verticillium dahliae bị biến màu từ nâu đến đen.

NHẬN XÉT VỀ BỆNH

Bệnh do nấm P. capcisi gây ra có thể phát triển ở bất cứ giai đoạn phát triển nào, nhưng một khi mầm cây ớt đạt đến giai đoạn 2 hoặc 3 lá, chúng thường không dễ bị nhiễm nấm Pythium spp nữa. Tuy nhiên, nấm Pythium spp. có thể gây bệnh thối rễ khi ớt được trồng trên lớp che phủ bằng nhựa.

“Úng nước” là thuật ngữ chung cho việc hạt mầm bị chết trong những điều kiện ẩm nước, hoặc trước hoặc sau khi nẩy mầm. Đó chủ yếu là vấn đề đầu vụ, gây tổn thất lớn nhất ở những ruộng đất ẩm. Bệnh này cũng là mối quan tâm lớn ở các nhà kính nếu đất trồng bị nhiễm bẩn hay được tưới nước quá nhiều.

Tuy việc nhiễm bệnh phổ biến nhất ở điều kiện thời tiết mát mẻ, nấm P. capcisi có thể nhiễm vào các cây mầm ở những chỗ có đất ấm hơn. Úng nước do nấm Pythium spp. có thể tăng lên ở nơi các loại phân xanh tự nhiên được bón thẳng vào đất ngay trước khi trồng. Bệnh úng nước không nhất thiết là truyền từ mùa này sang mùa khác ở cùng một nơi, nhưng chỉ xuất hiện khi và ở nơi có những điều kiện lý tưởng.

Nấm P. capcisi lẫn Pythium spp. đều không phải phát sinh từ hạt. Tuy nhiên, cả hai loại này đều có thể tồn tại trong đất trong những khoảng thời gian dài do có thành vỏ bào tử dày. Những cây giống nhiễm bẩn hoặc mầm bệnh từ đất là những nguồn lây nhiễm chính. Việc tưới nước thường giúp các bào tử nấm làn truyền từ phần ruộng nhiễm bệnh sang những phần ruộng khác. Do đó, việc tưới nước có thể làm tăng đáng kể sự tác động và mức độ nghiêm trọng của bệnh thối rễ và vành lá ở cây ớt. Tăng tần suất và thời lượng tưới nước sẽ tạo điều kiện cho bệnh phát triển.

Nước, nhiệt độ và kết cấu đất trồng là những nhân tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh úng nước, thối rễ và vành lá. Sự hiện diện của nước là bắt buộc; đất bão hòa nước chỉ trong 5 đến 6 giờ là có thể dẫn đến nhiễm bệnh, và những giống ớt dễ thương tổn có thể bị bệnh nghiêm trọng chỉ trong 5 ngày. Nhiệt độ tối ưu để cây nhiễm bệnh là 24° đến 33°C. Những triệu chứng thường xuất hiện tiếp sau thời tiết ấm, ẩm. Bệnh nặng hơn trong những vùng đất kết cấu mịn (đất sét) thoát nước chậm và đất có độ nén cao. Những ruộng nhiễm bệnh nặng có thể bị thiệt hại toàn bộ cây trồng.

Việc nhiễm bệnh xảy ra cuối vụ có thể làm giảm sức sống hay sản lượng của cây mà không làm cây bị chết. Ngoài ra, nếu lá ớt héo trong thời gian nóng nhất vào ban ngày và làm cho quả bị phơi nắng nhiều, những quả ớt như thế sẽ trở nên cháy nắng và do đó không thể thu hoạch để sử dụng được.

XỬ LÝ

Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các bệnh úng nước và thối rễ và ngọn ở cây ớt trong một vụ mùa nhất định bao gồm khả năng bị tổn thương của giống, số lượng và tần suất tưới tiêu, độ nén và khả năng thoát nước của đất. Đảo vụ, tưới tiêu đúng cách, và các cây giống sạch đặc biệt quan trọng trong việc xử lý loại bệnh này. Những ruộng ớt có tiền sử bệnh thối rễ và ngọn có thể cần phun thuốc diệt nấm khi trồng.

Kiểm Soát Cây Trồng

Bệnh có thể được ngăn ngừa có hiệu quả bằng cách:

  • Sử dụng cây giống sạch bệnh
  • Chuẩn bị đất ruộng và đất ươm giống đúng cách
  • Quản lý tưới tiêu tốt
  • Áp dụng đảo vụ 2 năm để loại trừ những cây bị nhiễm nấm
Chuẩn bị đất trồng và làm luống

Có thể cải thiện việc kiểm soát bệnh bằng cách giảm bớt độ nén của đất, trồng cây trên nền cao. Nếu có thể, tránh trồng cây khi đất đang lạnh. Hạt giống sẽ nẩy mầm nhanh hơn và khỏe mạnh hơn khi đất ấm: do đó chúng sẽ ít khả năng bị tổn thương hơn.

Tưới tiêu

Sử dụng bình tưới khi ươm mầm để kiểm soát tốt việc tưới tiêu và giảm bớt nguy cơ nhiễm nấm. Trong khu vực đất dày tiêu nước kém, bệnh thối rễ và ngọn có thể được giảm xuống bằng cách tưới cách luống hoặc tưới nhỏ giọt cẩn thận.

Kháng bệnh

Những giống cây thương mại với mức độ kháng bệnh chấp nhận được đã có. Tuy nhiên, nhìn chung cây ớt rất dễ bị nhiễm các bệnh này.

Các Quyết Định Xử Lý

Các loại thuốc diệt nấm đôi khi được sử dụng để phòng ngừa trong những ruộng cây có tiền sử có bệnh thối rễ hoặc những vấn đề về tưới tiêu. Xử lý thuốc nấm cho hạt mầm để đề phòng úng nước.

Tên phổ thông Lượng dùng mỗi hecta R.E.I.+ P.H.I.+
(tên thương mại) (giờ) (ngày)

Khi chọn một loại thuốc sâu, hãy cân nhắc các thông tin liên quan đến chất lượng môi trường. Không phải tất cả các thuốc trừ sâu có đăng ký đều được nêu ra. Hãy luôn đọc kỹ nhãn của sản phẩm được sử dụng.
A. MEFENOXAM
(Ridomil Gold SL) 1.250 ml (phun đất) 48 7
625 ml (phun lá) 48 7
TÊN (SỐ HIỆU1) NHÓM CÁCH XỬ LÝ: Phenylamide (4)
CHÚ THÍCH: Phun khi trồng và phun 2 lần liên tiếp với cách khoảng 30 ngày. Không phun quá 1.800 ml/ha mỗi vụ (phun đất) hoặc 625 ml/ha mỗi vụ (phun lá). Tưới cơ học hoặc bằng bình tưới để di chuyển chất thuốc đến vùng rễ. Không sử dụng cho cây ớt trồng trong nhà kính.
B. FLUOPICOLIDE
(Presidio) 220–300 ml 12 2
TÊN (SỐ HIỆU1) NHÓM CÁCH XỬ LÝ: Benzamide (43)
CHÚ THÍCH: Việc Pha trộn trong thùng chứa với tỷ lệ theo nhãn của một sản phẩm diệt nấm khác nhãn có cách xử lý khác phải được áp dụng dụng để xử lý bền vững.
C. PHOSPHOROUS ACID
(Nhiều loại sản phẩm) Tỷ lệ theo nhãn xem nhãn xem nhãn
TÊN (SỐ HIỆU1) NHÓM CÁCH XỬ LÝ: Phosphonate (33)
CHÚ THÍCH: Nghiên cứu về việc sử dụng chất này chưa được tiến hành, nhưng kinh nghiệm cho thấy nó có thể giúp kiểm soát bệnh bằng cách phòng. Cần phải phun nhiều lần để có sự kiểm soát tốt nhất.
+ Khoảng thời gian hạn chế vào (R.E.I.) là số giờ (trừ khi được ghi khác) từ khi phun thuốc cho đến khi có thể bước vào khu vực được phun mà không cần đồ bảo hộ. Khoảng thời gian trước thu hoạch (P.H.I.) là số ngày từ khi phun thuốc đến khi được thu hoạch. Trong một số trường hợp REI vượt PHI. Trong hai chỉ số này, chỉ số nào dài hơn sẽ là thời gian tối thiểu phải bỏ qua trước khi thu hoạch.
1 Các số hiệu Nhóm cách-xử-lý được chỉ định bởi IRAC (Ban Xử Lý Kháng Thuốc Trừ Sâu). Để biết thêm thông tin, xem Web site. Các thuốc diệt nấm có một số hiệu nhóm khác thích hợp để dùng thay thế trong một chương trình xử lý bền vững. Đối với những thuốc diệt nấm có các số hiệu Nhóm cách xử lý 1, 4, 9, 11, hay 17, không phun quá một lần trước khi luân phiên sang một loại thuốc có số hiệu Nhóm cách xử lý khác; đối với những loại thuốc diệt nấm có các số hiệu Nhóm khác, không phun quá hai lần liên tiếp trước khi luân phiên sang một loại thuốc có số hiệu Nhóm cách xử lý khác.

Nguồn: sưu tầm.