ỚT BỊ HÉO VÀNG – “ÁN TỬ” LẶNG LẼ TRONG VƯỜN ỚT

Bệnh héo vàng trên ớt xuất phát từ một loại nấm hại có phổ ký chủ rộng tên thuộc họ Fusarium. Bệnh xuất hiện phổ biến trên và thường bội nhiễm cũng nhiều tác nhân khác gây khó khăn cho quá trình chẩn đoán và điều trị.

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH HÉO VÀNG TRÊN CÂY ỚT ?

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH HÉO VÀNG TRÊN CÂY ỚT ?
NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH HÉO VÀNG TRÊN CÂY ỚT ?

Nấm bệnh tồn tại chủ yếu trong đất và có thể lưu tồn trong đất qua nhiều năm. Ngoài ra, bào tử nấm còn có ở trong các tàn dư thực vật, lây lan qua nước và các hoạt động canh tác của con người. Khi gặp điều kiện thích hợp các bào tử nấm đâm chồi và xâm nhập gây hại cho cây trồng. Nhiệt độ từ 25 – 30oC, độ ẩm cao, mưa nhiều sẽ làm cho nấm bệnh phát triển mạnh, lây lan nhanh.

Đặc biệt trên các ruộng vườn bị nhiễm bệnh ở vụ trước thì khả năng và mức độ gây hại của bệnh tăng cao.

BIỂU HIỆN CỦA BỆNH HÉO VÀNG GÂY HẠI TRÊN CÂY ỚT ?

BIỂU HIỆN CỦA BỆNH HÉO VÀNG GÂY HẠI TRÊN CÂY ỚT ?
BIỂU HIỆN CỦA BỆNH HÉO VÀNG GÂY HẠI TRÊN CÂY ỚT ?

Bệnh xâm nhiễm và gây hại chủ yếu ở thời kỳ cây con đến khi cây ra hoa, nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng nhất là vào thời kỳ thu hoạch ớt.

Các biểu hiện bệnh trên cây xảy ra như sau:

Bệnh xảy ra trên các lá già ở phía dưới trước sau đó lan dần lên các lá phía trên. Triệu chứng bệnh có thể xuất hiện ở vài nhánh hoặc toàn bộ cây. Các lá cây chuyển vàng, héo dần, sau đó chết đi. Quan sát phần cổ rễ sẽ các các vết nấm hình thành từng mảng, các mạch tế bào bên trong thân khi cắt ngang sẽ thấy hiện tượng hóa nâu.

Bệnh này thường dễ gây nhầm lẫn với bệnh héo xanh vi khuẩn. Nhưng bệnh héo xanh vi khuẩn các vết bệnh thường mềm ướt, cách dễ nhận biết nhất là cắt ngang thân cây nhúng vào nước nếu thấy các giọt dịch trắng chảy xuống thì đó là bệnh héo xanh do vi khuẩn.

HẬU QUẢ CỦA BỆNH HÉO VÀNG GÂY HẠI TRÊN CÂY ỚT ?

Nấm bệnh xâm nhập khiến cho các bó mạch của rễ và thân bị ảnh hưởng làm cản trở quá trình vận chuyển nước và dưỡng chất nuôi cây. Hiện tượng lá vàng dần rồi rụng hàng loạt làm cho cây trơ trụi, còi cọc, khả năng ra hoa đậu trái sụt giảm.

Bộ rễ bị tổn thương không phát sinh rễ tơ, rễ cọc bị thối làm cây ớt bị héo úa rồi sau đó chết đi gây thiệt hại đến kinh tế người nhà vườn.

BÀ CON SỬ DỤNG HOBYO 200WP ĐỂ TRỊ BỆNH HÉO VÀNG GÂY HẠI TRÊN CÂY ỚT

HOBYO 200WP – THUỐC TRỪ BỆNH XOĂN LÁ, HOA DỊ DẠNG, KHẢM LÁ

THÀNH PHẦN HOBYO 200WP

Moroxydine Hydrochloride: 16%

Copper Axcetate: 4%

Phụ gia vừa đủ 1kg

CÔNG DỤNG HOBYO 200WP

HOBYO 200WP
HOBYO 200WP
HOBYO 200WP là thuốc trừ bệnh hữu cơ có công thức độc đáo đầu tiên ở Việt Nam được công nhận là THUỐC TRỪ VIRUS.

Là cuộc cách mạng nhảy vọt về khoa học kỹ thuật bảo vệ cây trồng.

Chính thức khai sinh phương pháp điều trị Virus thực vật một cách chủ động.

Hoạt chất Moroxydine hydrochloride đã được sử dụng cho người để điều trị Virus gây bệnh đường hô hấp và Virus gây tổn thương niêm mạc.

Moroxydine hydro-chloride có phổ rộng với cả Virus AND và Virus ARN.

Nhiều dẫn xuất của Mo-roxydine Hydrochloride đang là biệt dược để điều trị Virus viêm gan B và C.
Chúng tôi đã thành công trong việc chế tác Moroxydine hydrochloride để sử dụng cho thực vật

Hoạt chất Copper acetate gắn kết với axit amin tạo thành phức hợp bền vững .

Có tác dụng ngăn chặn sự xâm nhập của Virus vào tế bào khỏe mạnh (chống lây lan) và chống sao chép (sinh sản) của Virus.

Sự kết hợp hoàn hảo của 2 hoạt chất về tính năng và khả năng hiệp đồng mạnh mẽ đã tạo ra HOBYO 200WP .

Có tác dụng phòng vệ vừa có tác dụng tiêu diệt Virus.

HOBYO 200WP được đăng ký trừ Virus trên cây thuốc lá.

LỜI KẾT:

Bệnh héo vàng trên ớt cực kỳ nguy hiểm – không trị sớm là lan nhanh, chết cả vườn. Muốn vườn ớt khỏe mạnh, cần xử lý đất kỹ từ đầu, kết hợp phòng bệnh định kỳ và chăm cây đúng cách.

Bà con còn thắc mắc gì vui lòng liên hệ về hotline 0984.535.820 để được đội ngũ kỹ sư tư vấn miễn phí hoặc liên hệ Website vietnamnongnghiepsach.com.vn. Chúc quý bà con có một vụ mùa bội thu !F

CÁC PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH HÉO VÀNG TRÊN CÂY ỚT

Tác nhân: Do nấm Fusarium oxysporum  

Tên tiếng Anh: Fusarium wilt

Triệu chứng gây hại:

– Bệnh thường gây hại giai đoạn cây con đến ra hoa, quả. 

– Triệu chứng điển hình là lá biến vàng và héo dần từ lá dưới gốc lên lá trên ngọn, cây sinh trưởng kém, cuối cùng toàn cây bị héo và chết.

– Gốc và rễ cây bệnh có vết nâu rồi khô dần, bó mạch trong thân cây hóa nâu. Phần gốc gần mặt đất teo tóp nhỏ lại và đôi khi có lớp tơ mỏng màu trắng bao phủ.

– Lá cây chết có màu vàng và khô. Thời gian từ khi cây có biểu hiện bệnh đến khi cây chết kéo dài hàng tháng.

Phát sinh gây hại:

– Nhiệt độ cao (25 – 300C), ẩm độ cao thích hợp cho nấm phát triển. Bệnh phát thường gây hại nặng trong mùa mưa.

– Bào tử nấm lưu tồn lâu trong đất, tàn dư bị bệnh, lây lan qua nước, đất do động vật hoặc con người mang đi, giống cây nhiễm bệnh (củ giống, cây giống…).

– Bệnh thường gây hại nặng ở những ruộng nhiễm bệnh vụ trước. Bệnh gây hại trên nhiều loại cây trồng như cà chua, ớt, đậu, gừng, dưa, khoai tây, bầu bí…

Biện pháp phòng trừ:

– Vệ sinh đồng ruộng, thu gom, tiêu hủy tàn dư cây bệnh.

– Chọn giống sạch bệnh từ ruộng không bị bệnh để trồng.

– Lên luống cao, có rãnh thoát nước tốt.

– Bón phân cân đối; bón vôi, phân hữu cơ  trước khi trồng.

– Tránh gây vết thương rễ cây.

– Nhổ bỏ cây bị bệnh, xử lý đất bằng vôi, hạn chế tưới nước để tránh lây lan.

– Luân canh với cây trồng khác không bị bệnh.

– Phun thuốc lên cây và tưới vào gốc để ngừa khi bệnh  mới xuất hiện (xử lý 2-3 lần cách nhau 7 ngày).

Bonny 4SL

25 ml/10 lít nước

Ridozeb 72WP

50 g/10 lít nước

Manozeb 80WP

50 g/10 lít nước

Carbenda supper 50SC

20 ml/ 10 lít nước

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ TRỊ NẤM – TUYẾN TRÙNG HẠI ỚT

Một số thuốc được khuyến cáo sử dụng để diệt côn trùng chích hút như:  Brightin 1.8ec (hoạt chất Abamectin), Alfatin 1.8ec (hoạt chất Abamectin), Binhtox 1.8ec (hoạt chất Abamectin), Vinoroots (hoạt chất chitosan),…

https://www.youtube.com/watch?v=71NYiCWpaGc

Bệnh Thối Rễ, Ngọn và Thối Mầm Trên Cây Ớt

Các mầm bệnh: Nấm Phytophthora capsici, Nấm Pythium aphanidermatum, và các nấm Pythium spp khác.

CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU HIỆU

Úng nước chủ yếu do nấm Pythium spp gây ra. Hạt giống bị úng nước sẽ không nẩy mầm được hoặc héo cong và chết ngay sau khi nẩy mầm. Thân cây thường có một màu tối, nhăn nheo ở phần dưới lớp đất. Tình trạng úng nước thường giới hạn ở những khu vực thoát nước kém hoặc đất nén quá chặt, nhưng cả ruộng ớt có thể bị ảnh hưởng, đặc biệt là nếu cây non gặp mưa nhiều.

Bệnh thối rễ và ngọn chủ yếu do nấm Phytophthora capsici gây ra. Các triệu chứng trên những cây ớt bị nhiễm là cây bị héo và chết. Kiểm tra kỹ lưỡng rễ và các thân cây là rất cần thiết để xác nhận nguyên nhân của bệnh. Bệnh có thể phát triển ở bất cứ giai đoạn phát triển nào của ớt. Các rễ cái và những rễ nhánh nhỏ hơn bị sũng nước, bị biến màu nâu rất đậm trên bề mặt, vỏ, và các mô mạch. Rất ít rễ nhánh sống được ở những cây ớt bị bệnh và rễ cái cũng có thể bị ngắn hơn so với những cây ớt khỏe mạnh. Sự khác biệt nổi bật nhất giữa những cây ớt khỏe và cây ớt bệnh là tổng khối lượng các mô rễ. Các thân cây thường bị ảnh hưởng ở nơi tiếp giáp đất. Những thương tổn của thân cây trước tiên trở nên màu xanh lá đậm và sũng nước, sau đó là khô đi và chuyển sang màu nâu. Một điểm thương tổn có thể làm thân bị thắt lại, dẫn đến phần cây phía trên điểm thương tổn bị héo và hậu quả là cây bị chết. Trong một số điều kiện, nấm P. capsici cũng có thể làm cho lá nâu và úa trên cây ớt.

Một bệnh phát sinh từ đất khác của của cây ớt là héo do nấm Verticillium, cũng gây ra những triệu chứng trên lá tương tự như các bệnh thối rễ và ngọn; tuy nhiên, bệnh héo do nấm Verticillium không làm cho bề mặt và vỏ rễ chuyển màu nâu hay bị thối. Ngược lại, các mô gỗ của phần thân và rễ còn lại của cây ớt nhiễm nấm Verticillium dahliae bị biến màu từ nâu đến đen.

NHẬN XÉT VỀ BỆNH

Bệnh do nấm P. capcisi gây ra có thể phát triển ở bất cứ giai đoạn phát triển nào, nhưng một khi mầm cây ớt đạt đến giai đoạn 2 hoặc 3 lá, chúng thường không dễ bị nhiễm nấm Pythium spp nữa. Tuy nhiên, nấm Pythium spp. có thể gây bệnh thối rễ khi ớt được trồng trên lớp che phủ bằng nhựa.

“Úng nước” là thuật ngữ chung cho việc hạt mầm bị chết trong những điều kiện ẩm nước, hoặc trước hoặc sau khi nẩy mầm. Đó chủ yếu là vấn đề đầu vụ, gây tổn thất lớn nhất ở những ruộng đất ẩm. Bệnh này cũng là mối quan tâm lớn ở các nhà kính nếu đất trồng bị nhiễm bẩn hay được tưới nước quá nhiều.

Tuy việc nhiễm bệnh phổ biến nhất ở điều kiện thời tiết mát mẻ, nấm P. capcisi có thể nhiễm vào các cây mầm ở những chỗ có đất ấm hơn. Úng nước do nấm Pythium spp. có thể tăng lên ở nơi các loại phân xanh tự nhiên được bón thẳng vào đất ngay trước khi trồng. Bệnh úng nước không nhất thiết là truyền từ mùa này sang mùa khác ở cùng một nơi, nhưng chỉ xuất hiện khi và ở nơi có những điều kiện lý tưởng.

Nấm P. capcisi lẫn Pythium spp. đều không phải phát sinh từ hạt. Tuy nhiên, cả hai loại này đều có thể tồn tại trong đất trong những khoảng thời gian dài do có thành vỏ bào tử dày. Những cây giống nhiễm bẩn hoặc mầm bệnh từ đất là những nguồn lây nhiễm chính. Việc tưới nước thường giúp các bào tử nấm làn truyền từ phần ruộng nhiễm bệnh sang những phần ruộng khác. Do đó, việc tưới nước có thể làm tăng đáng kể sự tác động và mức độ nghiêm trọng của bệnh thối rễ và vành lá ở cây ớt. Tăng tần suất và thời lượng tưới nước sẽ tạo điều kiện cho bệnh phát triển.

Nước, nhiệt độ và kết cấu đất trồng là những nhân tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh úng nước, thối rễ và vành lá. Sự hiện diện của nước là bắt buộc; đất bão hòa nước chỉ trong 5 đến 6 giờ là có thể dẫn đến nhiễm bệnh, và những giống ớt dễ thương tổn có thể bị bệnh nghiêm trọng chỉ trong 5 ngày. Nhiệt độ tối ưu để cây nhiễm bệnh là 24° đến 33°C. Những triệu chứng thường xuất hiện tiếp sau thời tiết ấm, ẩm. Bệnh nặng hơn trong những vùng đất kết cấu mịn (đất sét) thoát nước chậm và đất có độ nén cao. Những ruộng nhiễm bệnh nặng có thể bị thiệt hại toàn bộ cây trồng.

Việc nhiễm bệnh xảy ra cuối vụ có thể làm giảm sức sống hay sản lượng của cây mà không làm cây bị chết. Ngoài ra, nếu lá ớt héo trong thời gian nóng nhất vào ban ngày và làm cho quả bị phơi nắng nhiều, những quả ớt như thế sẽ trở nên cháy nắng và do đó không thể thu hoạch để sử dụng được.

XỬ LÝ

Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các bệnh úng nước và thối rễ và ngọn ở cây ớt trong một vụ mùa nhất định bao gồm khả năng bị tổn thương của giống, số lượng và tần suất tưới tiêu, độ nén và khả năng thoát nước của đất. Đảo vụ, tưới tiêu đúng cách, và các cây giống sạch đặc biệt quan trọng trong việc xử lý loại bệnh này. Những ruộng ớt có tiền sử bệnh thối rễ và ngọn có thể cần phun thuốc diệt nấm khi trồng.

Kiểm Soát Cây Trồng

Bệnh có thể được ngăn ngừa có hiệu quả bằng cách:

  • Sử dụng cây giống sạch bệnh
  • Chuẩn bị đất ruộng và đất ươm giống đúng cách
  • Quản lý tưới tiêu tốt
  • Áp dụng đảo vụ 2 năm để loại trừ những cây bị nhiễm nấm
Chuẩn bị đất trồng và làm luống

Có thể cải thiện việc kiểm soát bệnh bằng cách giảm bớt độ nén của đất, trồng cây trên nền cao. Nếu có thể, tránh trồng cây khi đất đang lạnh. Hạt giống sẽ nẩy mầm nhanh hơn và khỏe mạnh hơn khi đất ấm: do đó chúng sẽ ít khả năng bị tổn thương hơn.

Tưới tiêu

Sử dụng bình tưới khi ươm mầm để kiểm soát tốt việc tưới tiêu và giảm bớt nguy cơ nhiễm nấm. Trong khu vực đất dày tiêu nước kém, bệnh thối rễ và ngọn có thể được giảm xuống bằng cách tưới cách luống hoặc tưới nhỏ giọt cẩn thận.

Kháng bệnh

Những giống cây thương mại với mức độ kháng bệnh chấp nhận được đã có. Tuy nhiên, nhìn chung cây ớt rất dễ bị nhiễm các bệnh này.

Các Quyết Định Xử Lý

Các loại thuốc diệt nấm đôi khi được sử dụng để phòng ngừa trong những ruộng cây có tiền sử có bệnh thối rễ hoặc những vấn đề về tưới tiêu. Xử lý thuốc nấm cho hạt mầm để đề phòng úng nước.

Tên phổ thông Lượng dùng mỗi hecta R.E.I.+ P.H.I.+
(tên thương mại) (giờ) (ngày)

Khi chọn một loại thuốc sâu, hãy cân nhắc các thông tin liên quan đến chất lượng môi trường. Không phải tất cả các thuốc trừ sâu có đăng ký đều được nêu ra. Hãy luôn đọc kỹ nhãn của sản phẩm được sử dụng.
A. MEFENOXAM
(Ridomil Gold SL) 1.250 ml (phun đất) 48 7
625 ml (phun lá) 48 7
TÊN (SỐ HIỆU1) NHÓM CÁCH XỬ LÝ: Phenylamide (4)
CHÚ THÍCH: Phun khi trồng và phun 2 lần liên tiếp với cách khoảng 30 ngày. Không phun quá 1.800 ml/ha mỗi vụ (phun đất) hoặc 625 ml/ha mỗi vụ (phun lá). Tưới cơ học hoặc bằng bình tưới để di chuyển chất thuốc đến vùng rễ. Không sử dụng cho cây ớt trồng trong nhà kính.
B. FLUOPICOLIDE
(Presidio) 220–300 ml 12 2
TÊN (SỐ HIỆU1) NHÓM CÁCH XỬ LÝ: Benzamide (43)
CHÚ THÍCH: Việc Pha trộn trong thùng chứa với tỷ lệ theo nhãn của một sản phẩm diệt nấm khác nhãn có cách xử lý khác phải được áp dụng dụng để xử lý bền vững.
C. PHOSPHOROUS ACID
(Nhiều loại sản phẩm) Tỷ lệ theo nhãn xem nhãn xem nhãn
TÊN (SỐ HIỆU1) NHÓM CÁCH XỬ LÝ: Phosphonate (33)
CHÚ THÍCH: Nghiên cứu về việc sử dụng chất này chưa được tiến hành, nhưng kinh nghiệm cho thấy nó có thể giúp kiểm soát bệnh bằng cách phòng. Cần phải phun nhiều lần để có sự kiểm soát tốt nhất.
+ Khoảng thời gian hạn chế vào (R.E.I.) là số giờ (trừ khi được ghi khác) từ khi phun thuốc cho đến khi có thể bước vào khu vực được phun mà không cần đồ bảo hộ. Khoảng thời gian trước thu hoạch (P.H.I.) là số ngày từ khi phun thuốc đến khi được thu hoạch. Trong một số trường hợp REI vượt PHI. Trong hai chỉ số này, chỉ số nào dài hơn sẽ là thời gian tối thiểu phải bỏ qua trước khi thu hoạch.
1 Các số hiệu Nhóm cách-xử-lý được chỉ định bởi IRAC (Ban Xử Lý Kháng Thuốc Trừ Sâu). Để biết thêm thông tin, xem Web site. Các thuốc diệt nấm có một số hiệu nhóm khác thích hợp để dùng thay thế trong một chương trình xử lý bền vững. Đối với những thuốc diệt nấm có các số hiệu Nhóm cách xử lý 1, 4, 9, 11, hay 17, không phun quá một lần trước khi luân phiên sang một loại thuốc có số hiệu Nhóm cách xử lý khác; đối với những loại thuốc diệt nấm có các số hiệu Nhóm khác, không phun quá hai lần liên tiếp trước khi luân phiên sang một loại thuốc có số hiệu Nhóm cách xử lý khác.

Nguồn: sưu tầm.

BỆNH NẤM MỐC BỘT

BỆNH NẤM MỐC BỘT TRÊN CÂY ỚT


Mầm bệnh: Leveillula taurica (giai đoạn bất toàn = Oidiopsis taurica)

CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU HIỆU

Nấm mốc bột chủ yếu ảnh hưởng đến lá cây ớt. Mặc dù bệnh thường xảy ra ở những lá già ngay trước hoặc trong khi cây ra quả, bệnh vẫn có thể phát triển ở bất cứ giai đoạn phát triển nào của cây ớt. Các triệu chứng bao gồm lá bị loang lổ, trắng, vết loang bột ngày càng rộng và hợp lại để bao phủ toàn bộ bề mặt dưới của lá. Qua thời gian, vết loang bột cũng sẽ hiện diện ở mặt trên của lá. Lá ớt có nấm mốc phát triển ở mặt dưới có thể đổi sang màu vàng nhợt hay nâu nhạt loang lổ ở mặt trên. Các viền của lá nhiễm nấm có thể cuộn lên phía trên để lộ vết loang nấm bột màu trắng. Các lá bệnh rụng khỏi cây và làm cho cây ớt bị phơi nắng nhiều và có thể dẫn đến cháy nắng.

NHẬN XÉT VỀ BỆNH

Nấm mốc bột có thể đặc biệt nghiêm trọng trong những tháng nóng và có thể gây ra mất mùa nặng. Mầm bệnh có phạm vi vật chủ rất rộng và có thể lây truyền giữa những loài khác nhau. Ở California, nấm mốc bột có thể đến từ những cây trồng như hành, bông, cà chua, tất cả các loài ớt, và các loài cây cỏ dại như cây diếp gai và tầm bóp (thù lù).

Mầm bệnh nấm mốc bột này khác với những mầm bệnh nấm mốc bột ở các giống cây khác mà bệnh xảy ra chủ yếu bên trong lá thay vì trên bề mặt lá. Cleistothecia (bào tử hữu tính) của Leveillula ở giai đoạn toàn diện hiếm khi xảy ra, nhưng các bào tử vô tính (conidia) được sản sinh và được gió gieo rắc. Nói chung, độ ẩm cao tạo điều kiện cho conidia nẩy mầm. Sự lây nhiễm nấm của cây trồng có thể xảy ra trong một phạm vi nhiệt độ rộng (18° đến 33°C) ở cả nhiệt độ cao lẫn nhiệt độ thấp. Trong những điều kiện thích hợp, sự lây nhiễm thứ cấp xảy ra cứ 7 đến 10 ngày, và bệnh có thể lan truyền nhanh chóng. Nhiệt độ trên 35°C có thể tạm thời ngân cản sự phát triển của bệnh nấm mốc bột.

XỬ LÝ

Việc thường xuyên theo dõi để phát hiện nấm mốc bột, đặc biệt là trong thời tiết ấm, là rất quan trọng để áp dụng các loại thuốc diệt nấm kịp thời để ngăn ngừa thiệt hại. Nấm mốc bột được xử lý chủ yếu bằng thuốc diệt nấm.

Kiểm Soát Cây Trồng

Loài nấm gây ra mốc bột có thể tồn tại trong thời gian các mùa vụ trên những cây trồng khác và các loài cỏ dại. Mức độ sống sót tùy thuộc vào các điều kiện môi trường. Do phạm vi vật chủ rộng lớn của nấm, rất khó để kiểm soát lượng mầm bệnh qua mùa đông. Do đó, những phương pháp vệ sinh đơn giản trong và xung quanh các ruộng ớt có thể không làm giảm mầm bệnh đủ để kiểm soát bệnh này.

Phần lớn các giống ớt không có mức độ kháng bệnh mốc bột khả quan. Hiện tại, chưa có chương trình gây giống nào nhằm mục đích phát triển các giống ớt kháng bệnh nấm mốc bột.

Các Phương Pháp Được Chấp Nhận Là Hữu Cơ

Phun lưu huỳnh và kali bicarbonate được chấp nhận sử dụng trong trồng ớt hữu cơ.

Các Quyết Định Xử Lý

Các loại thuốc diệt nấm có thể giúp kiểm soát bệnh hiệu quả và ngăn chặn tổn thất kinh tế nếu áp dụng trong những giai đoạn đầu nhiễm bệnh. Để kiểm soát hiệu quả cần phải phun với áp suất cao và lượng nước lớn để thuốc diệt nấm đạt được sự xâm nhập tối ưu vào các tán cây. Sự phun phủ tốt là rất cần thiết; phun trên đất sẽ phủ tốt hơn phun trên không.

Tên phổ thông Lượng dùng mỗi hecta R.E.I.+ P.H.I.+
(tên thương mại)   (giờ) (ngày)

Khi chọn một loại thuốc sâu, hãy cân nhắc các thông tin liên quan đến chất lượng môi trường. Không phải tất cả các thuốc trừ sâu có đăng ký đều được nêu ra. Hãy luôn đọc kỹ nhãn của sản phẩm được sử dụng.
 
A. SULFUR DF# 5,6 kg 24 0
  TÊN (SỐ HIỆU1) NHÓM CÁCH XỬ LÝ: Tiếp xúc đa điểm (M2)
  CHÚ THÍCH: Chỉ kiểm soát một phần ngay cả khi phun sớm. Để ngăn ngừa sự tổn thương cho cây trồng, không phun trong vòng 2 tuần nếu đã phun dầu.
 
B. AZOXYSTROBIN
  (Quadris) 450–1.150 ml 4 0
  TÊN (SỐ HIỆU1) NHÓM CÁCH XỬ LÝ: Chất gây ức chế bên ngoài Quinon (11)
 
C. PYRACLOSTROBIN
  (Cabrio EG) 600–900 ml 12 0
  TÊN (SỐ HIỆU1) NHÓM CÁCH XỬ LÝ: Chất gây ức chế bên ngoài Quinon (11)
  CHÚ THÍCH: Không phun quá 6 lần mỗi mùa.
 
D. MYCLOBUTANIL
  (Rally 40W) 300 ml 24 0
  TÊN (SỐ HIỆU1) NHÓM CÁCH XỬ LÝ: Chất gây ức chế khử mety(3)
  CHÚ THÍCH: Không phun quá 4 lần mỗi năm. Không phun quá 1.4 kg/ha.
 
E. QUINOXYFEN
  (Quintec) 300–450 ml 12 3
  TÊN (SỐ HIỆU1) NHÓM CÁCH XỬ LÝ: Quinolin (13)
  CHÚ THÍCH: Dùng để thay thế luân phiên sau mỗi lần sử dụng một loại thuốc diệt nấm có nhóm cách xử lý khác.
 
F. TRIFLOXYSTROBIN
  (Flint) 110–150 ml 12 3
  TÊN (SỐ HIỆU1) NHÓM CÁCH XỬ LÝ: Chất gây ức chế bên ngoài Quinon (11)
 
G. POTASSIUM BICARBONATE
  (Kaligreen) 180–220 ml 4 1
  CÁCH XỬ LÝ: Một loại muối vô cơ.
  CHÚ THÍCH: Tuy sản phẩm này đã được thử nghiệm cho những loại cây trồng khác, nghiên cứu vẫn đang thiếu dữ liệu sử dụng cho cây ớt và các quan sát cho thấy rằng sản phẩm chỉ giúp kiểm soát một phần. Phun phủ kỹ và thường xuyên là điều cần thiết.
 
** Xem nhãn để biết tỷ lệ pha loãng.
+ Khoảng thời gian hạn chế vào (R.E.I.) là số giờ (trừ khi được ghi khác) từ khi phun thuốc cho đến khi có thể bước vào khu vực được phun mà không cần đồ bảo hộ. Khoảng thời gian trước thu hoạch (P.H.I.) là số ngày từ khi phun thuốc đến khi được thu hoạch. Trong một số trường hợp REI vượt PHI. Trong hai chỉ số này, chỉ số nào dài hơn sẽ là thời gian tối thiểu phải bỏ qua trước khi thu hoạch.
# Được chấp nhận sử dụng trong trồng trọt hữu cơ.
1 Luân phiên các hóa chất với một số hiệu Nhóm cách-xử-lý khác nhau, và không sử dụng các sản phẩm có cùng một số hiệu Nhóm cách-xử-lý hơn hai lần mỗi mùa để đề phòng sâu bệnh kháng thuốc. Ví dụ, the organophosphates có số hiệu Nhóm 1B; các hóa chất có số hiệu Nhóm 1B nên được thay thế bằng các hóa chất có một số hiệu Nhóm khác 1B. Các số hiệu Nhóm cách-xử-lý được chỉ định bởi IRAC (Ban Xử Lý Kháng Thuốc Trừ Sâu).

Nguồn: sưu tầm.

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

BỆNH KHẢM TRÊN CÂY ỚT – “SÁT THỦ GIẤU MẶT” TRONG VƯỜN RAU NHÀ BẠN

DẤU HIỆU BỆNH KHẢM TRÊN CÂY ỚT ?

DẤU HIỆU BỆNH KHẢM TRÊN CÂY ỚT ?
DẤU HIỆU BỆNH KHẢM TRÊN CÂY ỚT ?

Lá xoăn, co rúm, biến dạng, mất màu xanh đều, xuất hiện vằn khảm (sáng – tối lốm đốm như da rắn).

Cây lùn thấp, phát triển chậm, ngọn cong vẹo, không ra hoa hoặc rụng nụ.

Trái nhỏ, méo mó, vỏ sần sùi hoặc nổi gân xanh bất thường.

Thường kèm theo sự xuất hiện của bọ phấn trắng, bọ trĩ, rệp mềm – là vật trung gian truyền virus!

VIRUS LÂY LAN NHƯ THẾ NÀO ?

Virus KHÔNG bay trong gió như nấm, mà lây qua:

Côn trùng chích hút: Bọ trĩ, rệp, bọ phấn…

Dụng cụ canh tác: Dao kéo, tay người chăm sóc khi chạm vào cây bệnh rồi qua cây khỏe.

Cây giống đã nhiễm bệnh ngay từ khi gieo ươm.

📌 Một khi cây đã nhiễm virus thì KHÔNG có thuốc đặc trị!

HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG KHI CÂY BỊ BỆNH KHẢM LÁ ?

HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG KHI CÂY BỊ BỆNH KHẢM LÁ ?
HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG KHI CÂY BỊ BỆNH KHẢM LÁ ?

Mất năng suất 30–80%, thậm chí mất trắng nếu bệnh lan rộng.

Làm suy cây, dễ nhiễm thêm nhiều bệnh hại khác.

Dẫn đến thất thu cả vụ, đặc biệt vào mùa khô – khi bọ trĩ và bọ phấn phát triển mạnh.

BÀ CON SỬ DỤNG HOBYO 200WP – THUỐC TRỪ BỆNH XOĂN LÁ, HOA DỊ DẠNG, KHẢM LÁ TRÊN CÂY ỚT

HOBYO 200WP – THUỐC TRỪ BỆNH XOĂN LÁ, HOA DỊ DẠNG, KHẢM LÁ

THÀNH PHẦN HOBYO 200WP

Moroxydine Hydrochloride: 16%

Copper Axcetate: 4%

Phụ gia vừa đủ 1kg

CÔNG DỤNG HOBYO 200WP

HOBYO 200WP
HOBYO 200WP
HOBYO 200WP là thuốc trừ bệnh hữu cơ có công thức độc đáo đầu tiên ở Việt Nam được công nhận là THUỐC TRỪ VIRUS.

Là cuộc cách mạng nhảy vọt về khoa học kỹ thuật bảo vệ cây trồng.

Chính thức khai sinh phương pháp điều trị Virus thực vật một cách chủ động.

Hoạt chất Moroxydine hydrochloride đã được sử dụng cho người để điều trị Virus gây bệnh đường hô hấp và Virus gây tổn thương niêm mạc.

Moroxydine hydro-chloride có phổ rộng với cả Virus AND và Virus ARN.

Nhiều dẫn xuất của Mo-roxydine Hydrochloride đang là biệt dược để điều trị Virus viêm gan B và C.
Chúng tôi đã thành công trong việc chế tác Moroxydine hydrochloride để sử dụng cho thực vật

Hoạt chất Copper acetate gắn kết với axit amin tạo thành phức hợp bền vững .

Có tác dụng ngăn chặn sự xâm nhập của Virus vào tế bào khỏe mạnh (chống lây lan) và chống sao chép (sinh sản) của Virus.

Sự kết hợp hoàn hảo của 2 hoạt chất về tính năng và khả năng hiệp đồng mạnh mẽ đã tạo ra HOBYO 200WP .

Có tác dụng phòng vệ vừa có tác dụng tiêu diệt Virus.

HOBYO 200WP được đăng ký trừ Virus trên cây thuốc lá.

LỜI KẾT:

“Phòng bệnh khảm không chỉ là phòng một loại bệnh – mà là bảo vệ toàn bộ vụ mùa!”

Bà con còn thắc mắc gì vui lòng liên hệ về hotline 0984.535.820 để được đội ngũ kỹ sư tư vấn miễn phí hoặc liên hệ Website vietnamnongnghiepsach.com.vn. Chúc quý bà con có một vụ mùa bội thu !

BỆNH ĐỐM HOẠT TỬ TRÊN CÂY ỚT

BỆNH ĐỐM HOẠT TỬ TRÊN CÂY ỚT


Mầm bệnh: Vi rút đốm hoại tử (INSV) trong nhóm tospovirus

CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU HIỆU

Triệu chứng trên những cây ớt nhiễm vi rút đốm hoại tử bao gồm các đốm vàng trên toàn bộ lá (bệnh úa vàng), các đốm chết (hoại) trên lá hoặc các cành non trên cùng, và nói chung là cây ớt còi cọc. Quả ớt lộ ra những đốm úa vàng, những vùng màu đỏ hoặc xanh được bao quanh bởi các quầng màu vàng, và những vùng đồng tâm mà có thể trở nên chết hoại. Các triệu chứng tương tự như bệnh gây ra bởi một loại tospovirus khác là Vi rút héo đốm cà chua (TSWV).

NHẬN XÉT VỀ BỆNH

Ở California, INSV chủ yếu có vật trung gian là bọ trĩ hoa tây phương. Khi bọ trĩ mang các loại tospo virus do ăn những cây bị nhiễm, chúng sẽ duy trì khả năng truyền vi rút trong phần đời còn lại của mình. INSV có phạm vi vật chủ gồm hầu hết là cây cảnh và không rộng như TSWV.

XỬ LÝ

Trong khi phun xịt diệt sinh vật trung gian bọ trĩ sẽ không ngăn chặn được những bệnh do vi rút này diễn ra, người trồng ớt vẫn nên cố gắng quản lý số lượng bọ trĩ nếu có thể.

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

Nguồn: sưu tầm.

BỆNH KHẢM DƯA CHUỘT

BỆNH KHẢM DƯA CHUỘT TRÊN CÂY ỚT


Mầm bệnh: Vi rút khảm dưa chuột cucumovirus (CMV)

CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU HIỆU

Các triệu chứng trên những cây ớt nhiễm vi rút khảm dưa chuột cucumovirus có thể khác nhau, nhưng nói chung, cây thể hiện toàn bộ một màu sắc nhạt cùng với những hoa văn khảm (xen kẽ những vùng xanh nhạt và đậm) trên ít nhất một số lá cây, đặc biệt là trên các lá non. Thông thường, gân lá chính bị méo mó và hơi có hình dạng chữ chi. Cây ớt thường trở nên còi cọc, lá quăn, và bị khảm, và các lá già có thể phát triển những vùng hoại tử có hình dạng như lá sồi. Quả có thể bị dị hình và có những vòng đồng tâm hoặc vết đốm rõ rệt. Có thể rất khó để phân biệt chính xác những cây ớt nhiễm vi rút khảm dưa chuột cucumovirus với những cây bị nhiễm potyvirus. Nói chung, sự lây nhiễm vi rút khảm dưa chuột cucumovirus nghiêm trọng hơn lây nhiễm potyvirus. Tuy nhiên, những trường hợp lây nhiễm hỗn hợp thường rất phổ biến, và vi rút này và một hoặc nhiều potyvirus có thể lây nhiễm cho cây ớt một cách đồng thời.

NHẬN XÉT VỀ BỆNH

Vi rút khảm dưa chuột cucumovirus lan truyền từ cây này sang cây kia bởi sinh vật trung gian là rệp; nhiều loài rệp là những vật trung gian hoàn hảo. Rệp truyền vi rút khảm dưa chuột cucumovirus trong khi thăm dò các mô lá. Một khi rệp mang vi rút khảm dưa chuột cucumovirus, nó sẽ chỉ duy trì khả năng truyền loại vi rút này trong một thời gian ngắn (vài phút đến vài giờ); sự lan truyền của vi rút là cục bộ và rất nhanh chóng trong các ruộng ớt. Nói chung, sự lan truyền trong ruộng cây liên quan đến hoạt động tổng thể của rệp, chứ không phải sự hiện diện của các loài rệp xâm lấn.

Có một số biến dạng nguồn gây bệnh của loại vi rút này. Vi rút có một phạm vi vật thể chủ rộng lớn từ các cây trồng lá rộng cho đến các loài cây cỏ dại, và do đó, việc loại trừ các nguồn mang vi rút thường xuyên biến đổi không phải là một chiến lược xử lý khả thi.

XỬ LÝ

Hiện không có nguồn giống ớt kháng vi rút khảm dưa chuột cucumovirus nào. Những nổ lực đang được thực hiện để phát triển các giống ớt kháng bệnh, cả thông qua việc gieo trồng truyền thống lẫn bằng công nghệ sinh học. Việc loại bỏ các cây cỏ dại và sử dụng các tấm phủ phản quang để xua đuổi sâu bọ truyền bệnh có thể giảm sự tác động của loại bệnh này cho cây ớt.

Các chiến lược dùng thuốc hóa học là không hiệu quả. Các loại thuốc trừ sâu được hướng dẫn dùng để kiểm soát loài rệp trung gian không hiệu quả trong việc ngăn chặn loại vi rút này bởi vì chúng không thể giết chết rệp trước khi chúng truyền vi rút cho cây; tuy nhiên, người trồng ớt vẫn nên cố gắng quản lý số lượng sinh vật trung gian nếu có thể (để biết thêm thông tin, hãy xem RỆP HỒ ĐÀO XANH).

Nguồn: sưu tầm.

BỆNH XOĂN LÁ CẢI TRÊN CÂY ỚT

TÁC NHÂN GÂY BỆNH

Vi rút xoăn lá cải geminivirus (BCTV)

CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU HIỆU

Các giống của những cây ớt nhiễm bệnh bị ngắn lại, dẫn đến cây ớt bị cực kỳ còi cọc. Phần trên của các cây nhiễm bệnh trông giống như hình một bông hoa hồng hay một bó hoa nhỏ.

Lá trở nên vàng hoặc xanh nhạt và có thể cuộn theo hướng lên trên. Quả nhỏ và vẫn hướng lên thay vì xuống dưới. Các cây ớt nhiễm bệnh khi còn non có thể sẽ chết.

NHẬN XÉT VỀ BỆNH

Vi rút có phạm vi vật chủ rất rộng lớn bao gồm nhiều loại rau quả, cây trồng trong ruộng, và cây cỏ dại. Vi rút truyền bởi bọ ăn lá củ cải đường, Circulifer tennelus, từ những cây chủ dễ mắc bệnh như cây kế ở Nga, là loại cây phát triển mạnh ở những vùng bờ biển hoặc sa mạc. Bệnh quăn lá cải thường xuất hiện trên những cây trồng thưa trong các ruộng ớt.

XỬ LÝ

Các giống kháng bệnh này có những cây họ đậu và củ cải đường, nhưng chưa có giống kháng bệnh cho ớt hay cà chua. Kiểm soát loài bọ ăn lá củ cải đường bằng cách phun thuốc trừ sâu trên những diện tích sinh trưởng của chúng sẽ hạn chế số lượng của chúng di chuyển sang những khu vực nông nghiệp. Những biện pháp kiểm soát chưa được khuyến nghị cho các ruộng ớt riêng lẻ.

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

BỆNH KHẢM ĐINH LĂNG

BỆNH KHẢM ĐINH LĂNG TRÊN CÂY ỚT


CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU HIỆU

Những triệu chứng điển hình của các cây ớt nhiễm vi rút khảm linh lăng alfalfa mosaic là một vết khảm màu vàng hoặc hơi trắng đặc trưng trên lá. Đối lập với các cây không nhiễm, quả của cây ớt nhiễm vi rút có thể bị còi cọc và méo mó.

NHẬN XÉT VỀ BỆNH

Sự lây nhiễm vi rút khảm linh lăng trên cây ớt xảy ra phổ biến hơn khi ớt được trồng gần những đồng cỏ linh lăng. Vi rút khảm linh lăng bắt nguồn từ hạt cỏ linh lăng và về cơ bản tất cả các đồng cỏ linh lăng đều có thể được coi là nhiễm vi rút. Vi rút khảm linh lăng được truyền sang cây ớt bởi một số loài rệp và nói chung là truyền từ cỏ linh lăng sang các cây trồng xung quanh qua rệp. Rệp chỉ truyền vi rút khi thăm dò các mô lá. Khi rệp mang vi rút khảm linh lăng, nó duy trì khả năng truyền vi rút chỉ trong một khoảng thời gian ngắn (vài phút đến vài giờ) và sự lan truyền là cục bộ và có thể diễn ra rất nhanh chóng trong các ruộng ớt. Nói chung, sự lan truyền trong ruộng liên quan tới hoạt động của rệp, chứ không phải sự hiện diện của các loài rệp xâm lấn. Ngoại trừ trong các ruộng ớt gần cỏ linh lăng, bệnh này thường không quan trọng lắm về mặt kinh tế.

Vi rút khảm linh lăng là loại vi rút duy nhất trong nhóm và có phạm vi vật chủ rộng rãi trong số cây cỏ dại và cây trồng.

XỬ LÝ

Nói chung, vi rút khảm linh lăng không phải là vấn đề lớn đối với ớt, mặc dù sự lây nhiễm vi rút khảm linh lăng diễn ra hàng năm. Cách tốt nhất để kiểm soát vi rút khảm linh lăng là tránh trồng ớt gần các đồng cỏ linh lăng. Hiện chưa có giống ớt thương mại nào có khả năng kháng vi rút này. Các loại thuốc trừ sâu nhằm kiểm soát vật chủ trung gian như rệp hầu như không hiệu quả. Chúng sẽ không giết rệp trước khi rệp truyền vi rút sang cây ớt.

nguồn: sưu tầm.