BỆNH LEM LÉP HẠT: HIỂM HỌA TIỀM ẨN TRÊN CÁNH ĐỒNG LÚA

Bệnh lem lép hạt, hay còn gọi là Grain Discoloration, là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng đối với năng suất và chất lượng lúa gạo trên toàn thế giới. Bệnh không chỉ gây thất thu trực tiếp do giảm số lượng hạt chắc mà còn ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm, gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho người nông dân.

Bệnh Lem Lép Hạt (2)
BỆNH LEM LÉP HẠT

Định Nghĩa và Tác Nhân Gây Bệnh

Lem lép hạt là một thuật ngữ chung mô tả tình trạng hạt lúa bị biến đổi màu sắc (thường là đen, nâu, hồng hoặc xám), kèm theo các dấu hiệu như hạt bị lép, lửng, hoặc có các đốm bệnh trên bề mặt. Bệnh có thể do nhiều tác nhân gây ra, bao gồm:

  • Nấm bệnh: Đây là nguyên nhân phổ biến nhất, với các loài nấm như Bipolaris oryzaeCurvularia lunataFusarium spp.Sarocladium oryzae (gây bệnh thối bẹ), và Alternaria padwickii là những tác nhân chính.

  • Vi khuẩn: Một số loài vi khuẩn, chẳng hạn như Burkholderia glumae (gây bệnh bạc lá lúa), cũng có thể gây ra các triệu chứng tương tự.

  • Yếu tố môi trường: Điều kiện thời tiết bất lợi như mưa nhiều, ẩm độ cao, nhiệt độ dao động lớn, hoặc thiếu dinh dưỡng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

  • Côn trùng: Một số loài côn trùng gây hại, đặc biệt là rầy nâu, có thể truyền virus hoặc tạo vết thương trên hạt, tạo điều kiện cho nấm và vi khuẩn xâm nhập.

Triệu Chứng và Dấu Hiệu Nhận Biết

Triệu chứng của bệnh lem lép hạt có thể khác nhau tùy thuộc vào tác nhân gây bệnh và giai đoạn phát triển của cây lúa. Tuy nhiên, một số dấu hiệu phổ biến bao gồm:

  • Biến đổi màu sắc hạt: Hạt lúa chuyển sang màu nâu, đen, xám, hồng hoặc có các đốm màu khác nhau.

  • Hạt bị lép hoặc lửng: Hạt không phát triển đầy đủ, nhẹ và không chắc.

  • Vết bệnh trên bề mặt hạt: Xuất hiện các đốm nhỏ, vết nứt hoặc lớp mốc trên vỏ trấu.

  • Giảm tỷ lệ nảy mầm: Hạt bị bệnh có tỷ lệ nảy mầm kém.

  • Năng suất giảm: Số lượng hạt chắc trên bông giảm, dẫn đến giảm năng suất tổng thể.

Bệnh Lem Lép Hạt (3)
BỆNH LEM LÉP HẠT

Tác Hại và Ảnh Hưởng Kinh Tế

Bệnh lem lép hạt gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của người nông dân:

  • Giảm năng suất: Số lượng hạt chắc giảm, dẫn đến giảm năng suất thu hoạch.

  • Giảm chất lượng gạo: Hạt gạo bị bệnh có chất lượng kém, tỷ lệ gạo nguyên giảm, giá trị thương phẩm thấp.

  • Tăng chi phí sản xuất: Nông dân phải đầu tư thêm chi phí cho thuốc bảo vệ thực vật và các biện pháp phòng trừ.

  • Nguy cơ lây lan: Hạt giống bị nhiễm bệnh có thể lây lan mầm bệnh sang các vụ sau.

Biện Pháp Phòng Ngừa và Quản Lý Bệnh

Để giảm thiểu tác hại của bệnh lem lép hạt, cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa và quản lý tổng hợp:

  • Sử dụng giống kháng bệnh: Lựa chọn các giống lúa có khả năng kháng bệnh tốt.

  • Xử lý hạt giống: Ngâm hạt giống trong nước ấm hoặc sử dụng thuốc trừ nấm trước khi gieo sạ.

  • Vệ sinh đồng ruộng: Thu gom và tiêu hủy tàn dư cây trồng sau thu hoạch để giảm nguồn bệnh.

  • Bón phân cân đối: Đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây lúa, đặc biệt là kali và silic, để tăng cường khả năng chống chịu bệnh.

  • Quản lý nước hợp lý: Tránh để ruộng lúa bị ngập úng kéo dài, tạo điều kiện cho nấm bệnh phát triển.

  • Phòng trừ côn trùng: Kiểm soát các loài côn trùng gây hại, đặc biệt là rầy nâu, để ngăn chặn sự lây lan của bệnh.

  • Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Sử dụng thuốc trừ nấm và vi khuẩn theo hướng dẫn của nhà sản xuất và tuân thủ nguyên tắc 4 đúng để đảm bảo hiệu quả và an toàn.

  • Luân canh cây trồng: Luân canh với các loại cây trồng khác không phải là ký chủ của bệnh để giảm mật độ mầm bệnh trong đất.

  • Theo dõi và phát hiện sớm: Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để phát hiện sớm các dấu hiệu của bệnh và có biện pháp xử lý kịp thời.

Bệnh Lem Lép Hạt
BỆNH LEM LÉP HẠT

Kết luận

Bệnh lem lép hạt là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng và các biện pháp phòng ngừa. Bằng cách áp dụng các biện pháp quản lý tổng hợp, người nông dân có thể giảm thiểu tác hại của bệnh, bảo vệ năng suất và chất lượng lúa gạo, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và nâng cao thu nhập.

CHÚC CÁC BẠN THÀNH CÔNG

——————————————————————————-

VIỆT NAM NÔNG NGHIỆP SẠCH 

Thuốc bvtv _ hạt giống_ dụng cụ nông nghiệp

Hỗ Tư vấn kỹ thuật tại vườn

Liên hệ mua hàng : 0984.535.820

Địa chỉ cửa hàng : Ngã Tư khu công nghiệp Tân Phú , Khu 7 – Thị Trấn Tân Phú – Tỉnh Đồng Nai

Link web: vietnamnongnghiepsach.com.vn

Link youtube 1: https://www.youtube.com/c/TrịBệnhChoCâyTrồng

Link youtube 2: https://www.youtube.com/c/KiếnThứcNôngNghiệp

 

GIỐNG ALTERNARIA LÀ GÌ?

Đặc điểm

Nhóm nấm này khá phổ biến, có nhiều loài hoại sinh và gây chết từng phần cây trồng. Alternaria là tác nhân gây nhiễm chính trong nuôi cấy trong phòng thí nghiệm. Bào tử của chúng rất phổ biến trong bụi bặm trong nhà, trong không khí và là tác nhân chính gây dị ứng (Hyde và Williams, 1946), một số bệnh về da và vài rối loạn nghiêm trọng ở cơ thể người.

Nhiều loài Alternaria ký sinh trên thực vật. Trên các cá thể thuộc họ Solanaceae (khoai tây), Alternaria cho triệu chứng bệnh rỉ sét sớm hơn là Phytophthora infestans (thuộc lớp Oomycetes, tác nhân gây bệnh rỉ sét muộn (late-blight) ở khoai tây), chỉ riêng Alternaria được gọi là “bệnh rỉ sét sớm”. Triệu chứng sớm của bệnh là những đốm nhỏ màu vàng nâu trên lá, sau đó lan rộng tạo những vết hình nhẫn đồng tâm; Toàn bộ phiến lá, cuống lá, gân lá và thậm chí cả hệ thống mạch dẫn cũng tổn thương đứt gãy do bị nhiễm. Phần còn lại của ống mạch có màu nâu.

Alternaria solani trên khoai tây (Solanium tuberosum)(Sharma, 1998)

Alternaria alternata (=A.tenuis) là nguyên nhân gây bệnh “đốm đen” trên lúa mì trong khi A.triticina gây bệnh rỉ sét (thối khô lá) (Bhownik, 1969). A. brassicaeA.brassicicola tấn công trên hạt Brascica (họ cải bắp) còn A.solani (hình 6.3) gây bệnh rỉ sét sớm trên khoai tây và các loài khác thuộc họ Solanaceae; Một vài loài Alternaria khác (với ký chủ của chúng trong ngoặc đơn) là A. citri (trên lá họ cam quít Citrus sp.), A..helianthi (trên hướng dương Helianthus annuus) và A. palanduiA. porri gây cháy lá trên hành tây, tỏi.

  • Hệ sợi nấm

Màu nâu sáng, mảnh, phân nhánh mạnh, sợi nấm có vách ngăn trước hết là gian bào, sau đó có thể trở thành nội bào.;Mỗi tế bào thường có nhiều nhân. Theo Knox-Davis (1979) thì những tế bào sinh dưỡng của A.brasicicola chứa từ một tới nhiều nhân, đầu mút tế bào sợi nấm có 27 nhân và những tế bào già có đến 33 nhân.

  • Sinh sản

Giống Alternaria chủ yếu sinh sản bằng cách tạo bào tử đính; Giai đoạn hoàn chỉnh của AlternariaPleospora infectoria (hình 6.4) – một loại nấm Loculoascomycetous (Webster, 1980).

Một nha bào tử phòng (ascus) của Pleospora infectoria – một loại nấm Loculoascomycetous – giai đoạn hoàn chỉnh của Alternaria (Sharma, 1998)

Bào tử đính phát triển trên cuống bào tử đính ngắn, sậm màu và thường vô định hình; Một bào tử phát triển như là chồi ngọn của tế bào đỉnh trên cuống bào tử đính (hình 6.5. A-D); Nó không phát triển bằng cách thắt eo và mở rộng phần chót tế bào của cuống bào tử.

Những bào tử non được phân cách bằng vách ngăn ngang (hình 6.5. E) với sự phát triển của vành hình khuyên vào bên trong (Campbell,1970); Trung tâm mỗi vách ngăn có một lỗ thông nội chất giữa các tế bào của bào tử, sau đó một số tế bào phân cách bởi vách ngăn dọc (hình 6.5. F).

Nhóm bào tử với vách ngăn và dọc như thế được gọi là dạng quả dâu (muriform) hoặc bào tử lưới (dictyospore), thường thì phần chóp bào tử nảy chồi và cuối cùng tạo thành sợi của bào tử (hình 6.5. G).

Đôi khi chồi có thể phát triển từ tế bào thấp hơn hay gắn vào bào tử tạo nên nhánh của sợi bào tử (hình 6.5. H-I). Sự mở rộng thêm của sợi bào tử sẽ ngưng khi có sự bịt kín lỗ nền bào tử; Bào tử chín là một quả thể nhiều nhân có vách ngang và dọc; Nó được bao quanh bởi 2 lớp vách, tầng ngoài có sắc tố của tế bào, tầng trong trong suốt (Campbel, 1969, 1970).

Theo Knok-Davies (1979) cuống bào tử chín chứa vài nhân (0-3) trong khi bào tử chứa 1-2 nhân, Purkayastha và cộng sự (1980) đã nghiên cứu siêu cấu trúc bề mặt của 5 loài Alternaria gây bệnh (A.longissima, A.cassiae, A.tenuissima, A.raphani và A.sonchi); Các hạt bào tử đươc phát tán nhờ gió, gặp điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp bào tử nảy mầm tạo từ 5 đến 10 ống (hình thành sợi nấm)(hình 6.5. J).

A-F sự phát triển bào tử đính của Alternaria solani; G, 2 bào tử đính thành chuỗi của A.brascicae;H, bào tử nảy chồi của A.brasicicola;I, chuỗi bào tử phân nhánh của A.brascicae; J, bào tử nảy chồi của A.brasicicola (Sharma, 1998).Conidiophore = cọng mang t1ui bào tử, bud = chồi, conidia = bào tử đính, germ tube = ống mầm, lateral bud = chồi hông, young conidium = bào tử đính non

Kiểm soát bệnh thối lụi

Sự luân phiên mùa vụ là có lợi vì bệnh chủ yếu từ đất trồng; Thuốc phun trừ nấm tốt nhất là loại có chứa đồng hoặc kẽm, cách khoảng 15 ngày trong phạm vi kiểm soát dự phòng. Azariah và cộng sự (1962) chủ trương sử dụng hỗn hợp Bordeux trong khi đó Mathur và cộng sự (1971) thì giới thiệu phun Zineb và Dithane M-45.

BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG – NHẬN BIẾT SỚM, PHÒNG NGỪA ĐÚNG CÁCH

Bệnh đốm nâu là một trong những bệnh phổ biến, xuất hiện trên nhiều loại cây trồng như: thanh long, xoài, tiêu, cà phê, lúa, rau màu… Nếu không phát hiện và xử lý kịp thời, bệnh có thể làm giảm năng suất, chất lượng nông sản và gây hại lâu dài đến sức khỏe cây trồng.

NGUYÊN NHÂN BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG

NGUYÊN NHÂN BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG
NGUYÊN NHÂN BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG

Bệnh đốm nâu chủ yếu do nấm gây hại như Cercospora spp., Helminthosporium spp., hoặc Neoscytalidium dimidiatum (trên thanh long). Các loại nấm này phát tán qua gió, nước mưa, công cụ chăm sóc, hoặc tồn tại trong tàn dư thực vật, đất bị nhiễm bệnh.

ĐIỀU KIỆN BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG ?

Mưa nhiều, ẩm độ cao, thiếu ánh sáng.

Vườn rậm rạp, thoát nước kém, tán lá không thông thoáng.

Bón thừa đạm, thiếu cân đối giữa các yếu tố dinh dưỡng.

Dùng giống không sạch bệnh, đất canh tác liên tục một loại cây.

DẤU HIỆU BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG ?

DẤU HIỆU BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG ?
DẤU HIỆU BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG ?

Trên lá, thân, cành hoặc quả xuất hiện đốm nhỏ tròn hay bầu dục, màu nâu sẫm hoặc nâu đen.

Trung tâm đốm có thể bị khô, rách, đôi khi thấy viền vàng hoặc màu xám bạc.

Nhiều vết đốm liên kết nhau tạo thành mảng lớn, gây cháy lá, rụng lá, hoặc thối quả.

Trên cây thanh long, bệnh thường biểu hiện bằng các đốm nâu khô, hơi lõm, lan rộng, làm khô cành, thối trái.

TÁC HẠI CỦA BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY TRỒNG ?

Làm giảm diện tích quang hợp, cây sinh trưởng yếu.

Rụng lá, rụng quả non, giảm năng suất.

Quả bị bệnh xấu mã, giảm giá trị thương phẩm.

Cây bị bệnh nặng có thể chết dần nếu không xử lý kịp thời.

SỬ DỤNG ROMIO 300WP CHUYÊN TRỊ BỆNH ĐỐM NÂU GÂY HẠI TRÊN CÂY TRỒNG 

ROMIO 300WP – THUỐC TRỪ BỆNH SƯƠNG MAI, ĐỐM LÁ, THÁN THƯ

THÀNH PHẦN ROMIO 300WP

Copper Oxychloride 300g/kg

Phụ gia đủ 1kg 

CÔNG DỤNG ROMIO 300WP

ROMIO 300WP
ROMIO 300WP

Theo từ điển thuốc BVTV hoạt chất Copper Oxychloride có khả năng phòng trừ các loại bệnh gây hại cây trồng như: Sương mai, giả sương mai, mốc sương, đốm lá, rỉ sắt, loét sẹo, thối trái, đốm vòng, thối nhũn, cháy bìa lá, đốm đen, thối củ, vàng lá, xì mủ, nứt thân, nứt quả, thán thư, rụng lá, rụng đốt, chết nhanh, chết chậm, …trên tiêu, cà phê, cao su, điều, cam, chanh, quýt, bưởi, sầu riêng, nhãn, xoài, mận, nho, thanh long,…

LỜI KẾT:

Bệnh đốm nâu không chỉ gây hại trước mắt mà còn ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe vườn cây. Việc quản lý bệnh theo hướng tổng hợp (IPM) – kết hợp biện pháp sinh học, canh tác và hóa học – là giải pháp bền vững giúp cây trồng khỏe mạnh, cho năng suất cao và ổn định.

Bà con còn thắc mắc gì vui lòng liên hệ về hotline 0984.535.820 để được đội ngũ kỹ sư tư vấn miễn phí hoặc liên hệ Website vietnamnongnghiepsach.com.vn. Chúc quý bà con có một vụ mùa bội thu !

CÁCH PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH ĐỐM LÁ TRÊN CÂY HOA CÚC

Bệnh do nấm Alternaria sp. gây ra. Nấm này phát sinh mạnh ở nhiệt độ từ 20-28 độ C, ẩm độ >85%.

Triệu chứng gây hại:

Vết bệnh thường xuất hiện từ mép lá sau đó lan vào phiến lá, màu xám nâu, hoặc xám đen hình tròn, hoặc bất định, xung quanh vết bệnh có quầng vàng rộng. Gặp thời tiết ẩm ướt, trên mô bệnh có lớp nấm mốc màu đen, lá bị thối, dễ rụng.

Phòng bệnh:

Trồng với mật độ hợp lý. Thường xuyên kiểm tra phát hiện bệnh kịp thời, ngắt bỏ lá già, lá bị bệnh đem tiêu hủy.

Trị bệnh:

Dùng các loại thuốc gốc đồng như: Topsin-M 70WP, Aliette 80NP, Rovral… để phun.

Trường hợp bệnh nặng, nhà vườn nên sử dụng hỗn hợp thuốc như: OverAmis + Asana, Ychatot + Kasuran,…

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033